Thiết kế sinh thái cho ngôi nhà

17:34


Thiết kế sinh thái tạo nên không gian sống trong lành cho ngôi nhà

Kiến trúc sư Nguyễn Hữu Vinh – Phó trưởng khoa Nội thất trường ĐH Kiến trúc TP.HCM có ý kiến tham gia diễn đàn “Tôi yêu thành phố của tôi”. 
 
TP.HCM có lẽ là một trong những đô thị năng động nhất Việt Nam với sự mới mẻ hiện lên từng ngày, từng giờ ở mọi nơi, mọi ngõ ngách của cuộc sống. Song song với vẻ đẹp của sự phát triển, tiến bộ về nhiều mặt, vẫn còn nhiều lắm những bài toán nan giải về nạn ô nhiễm môi trường, về sự rối rắm lộn xộn của cảnh quan đô thị, và cả sự phát triển tự phát, thiếu thống nhất của những kiểu “không gian sống” của cư dân thành phố hiện nay.

Sự phát triển quá nhanh chóng có thể tạo ra những hệ lụy về sự ô nhiễm môi trường tự nhiên và không khí, ô nhiễm âm thanh, sự giảm sút chất lượng cuộc sống, và kết quả là người dân phần nào cảm thấy mệt mỏi, ngột ngạt. Từ đó hình thành nên một nhu cầu về một không gian sống trong lành, an toàn và bền vững.

Để xây dựng nên những giá trị bền vững cho không gian sống của mỗi gia đình và cho cả cộng đồng, cần có sự chung tay góp sức của nhiều thành phần trong xã hội. Trong đó, vai trò của kiến trúc sư và nhà thiết kế có thể được xem là khá quan trọng, họ chính là người tham gia định hướng và thỏa mãn nhu cầu ở và sinh hoạt của người dân thông qua các giải pháp thiết kế cảnh quan, kiến trúc và những không gian nội thất.



Diễn đàn “Tôi yêu thành phố của tôi” được thực hiện bởi Báo Thanh Niên phối hợp với Công ty sơn AkzoNobel Việt Nam.

Những năm qua, tôi đã nghiên cứu rất nhiều về xu hướng thiết kế xanh – kiến trúc sinh thái Ecotecture, xu hướng này có thể được xem là bộ môn nghệ thuật và khoa học về xây dựng nhằm thiết kế những hệ thống nhân văn tích hợp những yếu tố tiện ích, thẩm mỹ và hệ sinh thái tự nhiên dành cho không gian sống của con người. Giới kiến trúc sư và những nhà thiết kế tân tiến đang theo đuổi những ý tưởng phát triển cảnh quan thiên nhiên – sân vườn gắn với công trình theo chiều đứng, vườn treo – vườn trên không, tiện nghi cộng đồng tích hợp – sự kết hợp những chức năng ưu việt của cả quan điểm sống, chất lượng sống, môi trường sống, cơ sở vật chất tân tiến và công nghệ mới vào các khu dân cư, khu sinh hoạt cộng đồng.

Không gian sống được thiết kế đảm bảo giá trị thẩm mỹ và những hệ thống thông minh vận hành và kiểm soát ngôi nhà đã tạo cho con người một ý thức sống vì cộng đồng, vì môi trường, xem mỗi công trình kiến trúc là một thực thể sống, cũng có nhu cầu phải thở, ăn uống và đào thải theo một cách thức đầy trách nhiệm và giảm thiểu tối đa sự nguy hại hay ảnh hưởng đến môi trường xung quanh.

Ecotecture là xu hướng thiết kế dựa trên nền tảng: Động lực học tự nhiên; Vật liệu thân thiện và bền vững như sơn tường, sơn nội thất; Những nguyên lý sinh học; Công thái học và nhân trắc học; Văn hóa hiểu biết và tôn trọng hành tinh này và mọi tạo vật của sự sống

Thiết kế sinh thái luôn hội đủ 3 yếu tố tiện ích, thẩm mỹ và hệ sinh thái tự nhiên.


Trong đó, tiện ích được biểu hiện qua những hệ thống thông minh: Ngôi nhà thông minh, ngôi nhà sử dụng năng lượng mặt trời, năng lượng gió và nước; những hệ thống giảm thiểu hiệu ứng nhà kính, cân bằng môi trường nội thất và ngoại thất; ngôi nhà tự sản sinh năng lượng.

Yếu tố thẩm mỹ và sử dụng hệ sinh thái tự nhiên được biểu hiện qua những giải pháp xanh và sạch, cụ thể như: Giải pháp thông gió, đón ánh sáng, tạo đối lưu không khí, cải tạo vi khí hậu; sử dụng cây xanh, sân vườn, vườn mái, vườn treo; sử dụng vật liệu thân thiện môi trường, vật liệu tái chế, vật liệu thiên nhiên, vật liệu tự hủy; giảm thiểu tạo ra rác thải; tái sử dụng; tái chế; tái sinh các giá trị sử dụng đã cũ; giải pháp sinh thái trong các mô hình nhà ở ngôi nhà thụ động, ngôi nhà nhiệt đới...

Một thành phố khỏe mạnh rất cần chứa đựng những mô hình xanh - sạch và văn minh, rất cần những nhà thiết kế làm việc trong tư thế chủ động và đầy trách nhiệm với cộng đồng, luôn xác định mối quan hệ giữa công trình kiến trúc - con người - và môi trường thiên nhiên là một vấn đề cốt lõi và thiết yếu trong xu hướng phát triển của xã hội.

Nguyễn Hữu Vinh

ECOTECTURE – tương lai của kiến trúc thế giới

Kiến trúc & Đời sống - Nhân loại đang ngồi trên một quả bom hẹn giờ. Và nếu tính toán của nhiều nhà khoa học trên thế giới là đúng, chúng ta chỉ còn 10 năm để đưa hành tinh này ra khỏi vòng xoáy của sự huỷ diệt do ô nhiễm môi trường. Và trong các nỗ lực giải cứu trái đất, kiến trúc sinh thái (Ecotecture) là một trong những giải pháp hữu hiệu và ít tốn kém nhất. Theo nghiên cứu của Ủy Ban Hợp Tác Môi Trường (Commission for Environmental Cooperation), tại những quốc gia phát triển, các toà nhà chiếm 40% tổng năng lượng được sử dụng, 38% lượng CO2 thải ra và 60% rác thải sinh hoạt. Và dự đoán, nếu ngành xây dựng vẫn duy trì phương thức như hiện nay, đến năm 2050 các toà nhà sẽ chiếm 70% lượng CO2 thải ra. 

ECOTECTURE như một xu hướng tất yếu
Những toà nhà bền vững, thân thiện với môi trường ngày càng trở nên phổ biến, dù đó là thuộc dạng nhà ở hay thương mại, ở nông thôn hay thành thị. Giờ đây, mối quan hệ giữa toà nhà và cư dân ở đó với môi trường là vấn đề thiết yếu đối với tất cả các công trình mới. Thái độ xanh và sạch này, xem mỗi kiến trúc là một thực thể sống cần phải thở, ăn uống và đào thải theo một cách thức có trách nhiệm và không gây nguy hại.

Kiến trúc sinh thái (Ecotecture), được ghép từ ecology (sinh thái) và architecture (kiến trúc), là xu hướng thiết kế dựa trên nền tảng: động lực học tự nhiên (natural dynamics), vật liệu thân thiện và bền vững (healthy materials), những nguyên lý sinh học (biological principles), công thái học và nhân trắc học (human ergonomics), văn hoá hiểu biết và tôn trọng hành tinh và mọi tạo vật của sự sống. Nhìn chung, Ecotecture có thể được xem là bộ môn khoa học và nghệ thuật nhằm thiết kế những hệ thống hoà hợp cả về mặt tính năng và thẩm mỹ với hệ thống sinh thái tự nhiên.

Lý do chúng ta phải áp dụng phương thức thiết kế của tự nhiên bởi vì các hệ thống sinh thái tự nhiên là mô hình tốt nhất về tính bền vững. Chỉ sử dụng ánh sáng mặt trời và một vài hoá chất đơn giản, tự nhiên, có thể tự tạo ra một phương thức để tự sinh tồn, bằng cách tổ chức thành những hệ thống sinh thái trên khắp trái đất. Những hệ thống sinh thái có thể ổn định, duy trì ở trạng thái cân bằng năng động, hơn vài chục ngàn năm.

Hiện nay, giới kiến trúc cách tân đang theo đuổi những ý tưởng như thiên nhiên theo chiều dọc (vertical landscaping), sân vườn trên không (sky garden), tiện nghi cộng đồng tích hợp (integrated community facilities) như một phần của toà nhà văn phòng và căn hộ. Năng lượng xanh và công dân toàn cầu sẽ là những vấn đề nóng bỏng gây nhiều tranh cãi. Không gian thẩm mỹ và những hệ thống thông minh sẽ tạo ra một trải nghiệm sống tuyệt vời và một cảm thức cộng đồng mạnh mẽ, đối lập với những “ốc đảo trên không” đã quá quen thuộc với chúng ta hiện nay – nơi mà người ta ít quan tâm đến cuộc sống của những cư dân trong kiến trúc đó và tác động của kiến trúc đó lên hệ thống sinh thái.

Các yếu tố nước, không khí và đất được xem như một phần không thể tách rời của bất kỳ công trình mới nào, dưới góc độ tác động của nó lên môi trường và cũng vì những hiểu biết sâu sắc hơn của chúng ta về nhu cầu của con người muốn tương tác với thế giới tự nhiên theo một cách thức có thể đem lại sự hài lòng và một lối sống toàn vẹn.

Theo hội đồng Công trình xanh Việt Nam (Vietnam Green Building Council), trung bình các công trình xanh sẽ tiết kiệm được 30% năng lượng sử dụng, giảm 35% lượng khí thải carbon, tiết kiệm từ 30 – 50% lượng nước sử dụng và từ 50 – 90% chi phí xử lý chất thải. Tạo mảng xanh cho công trình từ cây trồng, dây leo mọi nơi khi có thể, sẽ là “lá phổi” lọc không khí cho công trình đó.

Mặc dù trên thế giới xu hướng Ecotecture đã trở nên rất phổ biến, tại Việt Nam giới kiến trúc vẫn còn rất e dè với xu hướng này. Chúng ta vẫn có thể đếm trên đầu ngón tay con số các công trình xanh tại Việt Nam như Six Senses Hideaway Resort, khách sạn Novotel Phan Thiết, căn hộ Estella. Chính vì vậy, tháng 9 vừa qua, công ty AkzoNobel vừa tổ chức hội thảo Ecotecture dành cho gần 1.000 kiến trúc sư nhằm phổ biến xu hướng Ecotecture tại Việt Nam. Hy vọng, đó sẽ là khởi đầu của xu hướng Ecotecture tại Việt Nam.

AkzoNobel Việt Nam là công ty sơn đầu tiên được Chính phủ tặng giải thưởng “Doanh nghiệp nước ngoài thân thiện với môi trường” trong khuôn khổ chương trình Golden FDI. Hầu hết các sản phẩm sơn Dulux, Levis, Maxilite của công ty sơn AkzoNobel Việt Nam đều đã đạt được Green Label của uỷ ban Môi trường Singapore (SEC), chứng nhận sản phẩm thân thiện với môi trường nhờ chứa hàm lượng VOC (các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi) thấp.

SGTT





Lắng nghe thành phố nói

17:25

Với ý tưởng nhìn nhận thành phố “như một thực thể sống, với một tâm hồn và những suy nghĩ”, các nghệ sĩ, nhà thiết kế và kiến trúc sư cùng ngồi lại với những công dân của thành phố trong cuộc trò chuyện tháng 6 do hội đồng Anh tổ chức để trả lời với nhau câu hỏi dường như chưa bao giờ được đặt ra với đô thị tại Việt Nam: Nếu thành phố biết nói...


Một cơ thể nghẽn động mạch 

Vị nhạc trưởng người Anh Graham Sutcliffe cho rằng mỗi cư dân của thành phố phải giật mình nếu nghe thấy tiếng nói của không gian sống mà chính chúng ta đã tạo ra rồi lại tự tay huỷ hoại. Tự nhiên tạo đà cho sự phát triển của con người nhưng giờ đây “thiên nhiên còn lại chỉ là công viên nằm lọt thỏm giữa các khu dân cư chằng chịt, ngổn ngang”. Theo ông Graham, lượng tiêu thụ của con người gấp 1,2 lần công suất sinh thái của trái đất vào năm 2001.

Ngoài ra, bài học về chính sách quy hoạch và quản lý tại Paris đến nay vẫn còn nóng hổi. Dồn các công trình nhà chung cư cao tầng ra ngoại ô và tập trung dân nhập cư vào các công trình này đã khiến kinh đô Ánh sáng rơi vào tình trạng bất ổn năm 2006. Và không ở đâu hơn chính Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là những ví dụ điển hình về tình trạng lộn xộn, thiếu quy hoạch của đô thị trong nhiều năm qua. 

Theo KTS Hoàng Hữu Phê, nhìn nhận thành phố trên lăng kính nào cũng thấy rằng nó “ốm nặng”. Mục đích của một thành phố là không gian sống thoả mãn với cuộc sống của mọi công dân trong đó về vật chất, sức khoẻ, tiện nghi và văn hoá. Tuy nhiên nhiều thành phố hiện đại cũng như đang phát triển trên thế giới không đạt được những tiêu chí đó cho dù nghịch lý là con người vẫn đổ về các thành phố. Và kết quả là thành phố sôi lên với những căn bệnh phức tạp của nó. 

Anh Steve, một nhà báo người Úc phát biểu: “Chỉ cần quay lại Việt Nam sau hai năm tôi đã thấy thành phố Hà Nội thay đổi chóng mặt. Công trình xây dựng nhiều hơn, dân số tăng vọt và đặc biệt là không khí ngột ngạt hơn rất nhiều. Thật buồn, bởi tôi biết nhiều người như tôi đã từng coi những thành phố ở châu Á như Hà Nội là điểm đến trong lành...”. Và cách đặt vấn đề theo môtíp đóng vai đã mở lối cho các công dân đô thị lên tiếng.

Người trẻ thì nói: “Tôi là thành phố đây và các bạn làm ơn trả lại cho tôi lá phổi. Không thở được liệu các bạn có sống nổi không?”. Người trung niên lên tiếng: “Tôi sợ sự hiện đại của các bạn quá rồi! Tôi muốn là cái anh thành phố không kẹt xe, không hiệu ứng nhà kính, không xung đột văn hoá và tôi muốn là cái anh thành phố với những công dân luôn có nụ cười tươi rói”. Thậm chí, cuộc toạ đàm còn được lắng nghe cả tiếng nói một người khiếm thị: “Tôi không nhìn thấy nhưng tôi nghe rất rõ. Nếu là thành phố tôi sẽ nói rằng các bạn hãy làm trong sạch những âm thanh của đô thị hiện đại đi, trong đó có nhiều tiếng động cơ, nhiều âm thanh nặng nề, nhiều những lời nói khiếm nhã và ngày càng ít tiếng cười đùa, chào hỏi thân thiện”.

Nói với nhau và nói với ai?

Mục đích của cuộc trò chuyện là tìm ra một giải pháp cho mô hình thành phố sáng tạo như một mô hình phát triển đô thị bền vững trên thế giới và đặc biệt là tại Việt Nam.

Graham Sutcliffe đưa ra định nghĩa: “Thành phố sáng tạo phải là một thành phố hướng về tương lai”. Còn KTS Phó Đức Tùng thì theo đuổi một mô hình cụ thể hơn: “Thành phố sáng tạo là thành phố có quy hoạch đô thị hài hoà và cộng sinh phát triển về văn hoá”. 

Khi đã nhìn thấy thực trạng thì giải pháp không thể là một nhiệm vụ bất khả thi. Xanh hoá thành phố, đưa ra những quy hoạch chi tiết và dài hơi cho thành phố và hiện thực hoá nó, hạn chế dân số của một thành phố trung tâm và mở rộng các thành phố vệ tinh trên nền tảng sinh thái hài hoà, v.v... Nhiều ý kiến được đưa ra và trao đổi với mục đích tìm ra một mô hình phát triển bền vững cho hai thành phố lớn của Việt Nam. 

Không có một công thức chung cho mô hình thành công của các thành phố phát triển bền vững, khi mà người Singapore thì tạo nên một khung chế tài chặt chẽ về bảo vệ môi trường, còn thủ đô London của Anh lại dựa vào chính sự đa dạng văn hoá để tạo nên nét đặc thù của mình. Những gợi ý của cuộc trò chuyện cho thấy có hơn một cách để Việt Nam có được những thành phố sáng tạo trong tương lai không xa nếu các nhà quản lý đồng hành với các công dân đô thị và các kiến trúc sư trong một tư duy bảo tồn và phát triển. Các diễn giả cũng như người nghe đã nói rất nhiều với nhau với tư cách là thành phố cũng như tư cách người sống trong thành phố nhưng có lẽ điều đáng tiếc là không có nhà quy hoạch hay nhà quản lý nào có mặt để nghe tiếng nói của thành phố trong một ngày hè Hà Nội.
SGTT Dung P.  ảnh Ngọc Linh


Quy hoạch đô thị bền vững, nhìn từ kinh nghiệm của Úc

17:18

Úc là một đất nước có thể nói là rất "trẻ", nhưng ngành quy hoạch phát triển đô thị của nước này hiện được coi là một điểm sáng, không những phục vụ tốt cho nhu cầu trong nước mà đang là ngành mũi nhọn có lợi thế cạnh tranh bền vững trên thị trường dịch vụ tư vấn toàn cầu. Tiến sĩ Trương Tiến Hải - một chuyên gia về phát triển nguồn nhân lực có bài viết về những kinh nghiệm của đất nước này trong quy hoạch đô thị (đăng trên trang web mạng kiến trúc xây dựng VN). Những nội dung này có thể là một tài liệu tham khảo bổ ích cho "những người trong cuộc".


Trong lần đến Úc mới đây, ông Cameron Nelson, điều phối viên quy hoạch hội đồng thành phố Brisbane, dẫn chúng tôi tham quan một cánh rừng thưa, rộng hàng ngàn hecta chạy men theo ngoại vi thành phố. Ba mươi năm trước, khu vực này là những trang trại trồng nho, nhưng đất đai cằn cỗi, năng suất quá thấp nên các chủ trại bỏ hoang. Nếu lúc này mà quy hoạch chắc hẳn dân chúng mừng lắm, nhưng thành phố lại chưa có điều kiện.


Năm tháng trôi qua, đất dù cằn cỗi nhưng vẫn đủ cho cây rừng sinh sôi và phát triển, tuy có chậm, để giờ đây đã có thể gọi là những khoảng rừng thưa. Ba năm trước hội đồng thành phố định quy hoạch nơi này thành một khu đô thị đa chức năng, nhưng khi thăm dò, hầu hết dân chúng không đồng tình, vì họ tin rằng ba mươi năm nữa nơi đây sẽ trở thành một cánh rừng thơ mộng nằm giữa lòng thành phố. Thế là ý định quy hoạch bị từ bỏ.


uc2


Nhân cơ hội này, tôi hỏi ông Cameron Nelson về những kinh nghiệm trong quy hoạch đô thị của Úc, ông nói: “Để có một đồ án quy hoạch tốt, đáp ứng nhu cầu phát triển đô thị hiện nay, không phải là dễ”. Và bài học kinh nghiệm của họ là xây dựng quy hoạch muốn tốt phải dựa trên 4 tiêu chí bền vững là: bền vững về xã hội, bền vững về tự nhiên, bền vững về kỹ thuật và bền vững về tài chính.

Bền vững về xã hội: Đây là tiêu chí quan trọng nhất. Quy hoạch đô thị ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều người từ nhiều sắc tộc khác nhau, nhiều nền văn hóa khác nhau. Để đồ án sống được theo thời gian với đầy đủ ý nghĩa mong muốn, đồ án đó phải vì con người, nghĩa là phải mang tính nhân văn, phải cân bằng được mọi giá trị văn hóa, tôn giáo, phải bảo đảm đầy đủ các yếu tố xã hội như giáo dục, y tế, việc làm, thu nhập, giao thông và các dịch vụ cần thiết khác, đó là những yếu tố tạo nên tính bền vững xã hội.


Để đạt được yêu cầu đó, công tác truyền thông rất được coi trọng, nghĩa là tất cả đều phải công khai, với mong muốn ý tưởng quy hoạch kết hợp với công nghệ tiên tiến phải hài hòa được với ý nguyện của nhân dân.
Công tác truyền thông được tiến hành xuyên suốt qua cả bốn giai đoạn quy hoạch: thăm dò ý tưởng, mô hình hóa ý tưởng, quy hoạch sơ bộ và quy hoạch chi tiết. Đặc biệt là hai giai đoạn sau cùng, công tác truyền thông được đẩy mạnh rất sâu rộng và chi tiết bằng các cuộc điều tra kinh tế - xã hội rất cụ thể.


uc3

Tại Sở Quy hoạch thành phố thiết lập bộ phận tiếp nhận ý kiến công chúng cùng đường dây điện thoại miễn phí để lĩnh hội tất cả ý kiến đóng góp của nhân dân rồi chuyển cho bộ phận chuyên môn xử lý.


Chi phí cho công tác truyền thông và điều tra xã hội chiếm tỷ lệ rất lớn, thường từ 10%-20%, trong tổng chi phí của một đồ án quy hoạch, nhưng mang lại nhiều lợi ích rất thiết thực.


Người Úc rất có trách nhiệm với công việc chung, chính quyền rất tôn trọng ý kiến của dân và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để người dân được nói lên ý kiến của mình. Vì vậy hầu hết mọi đồ án quy hoạch đều được đón nhận và ủng hộ vì được thực hiện theo ý nguyện của nhân dân.


Bền vững về tự nhiên: Đây là tiêu chí quan trọng thứ hai. Tiêu chí này dựa trên nguyên tắc cơ bản là tất cả mọi cấu phần của đồ án quy hoạch phải tồn tại thân thiện với môi trường sinh thái. Người ta thiết lập một thứ tự ưu tiên để phân tích tác động của đồ án đến môi trường.


Ưu tiên thứ nhất là nguồn nước. Người Úc coi “nước là linh hồn cuộc sống” nên quý trọng từng giọt và chú ý bảo vệ như nguồn tài nguyên quý giá nhất. Tại mỗi vòi nước đều có lời nhắc nhở dùng nước tiết kiệm: “Bạn cứ dùng nước thoải mái nhưng chỉ với mục đích thiết thực”. Trong mỗi buồng tắm khách sạn cũng có những tờ rơi nhắc nhở ý thức bảo vệ môi trường: “Xin bạn bỏ khăn cần giặt vào nơi quy định. Bởi nếu không chúng tôi sẽ giặt tất cả, và như vậy thì không hợp lý: thứ nhất tốn nước vô ích, thứ hai tốn chi phí xử lý nước thải vì xà phòng là chất không thân thiện với môi trường”.


Nếu một đồ án quy hoạch có ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nước mà không thể khắc phụ được thì bị từ bỏ ngay.


Ưu tiên thứ hai là những khoảng không gian xanh. Cây xanh ở Úc cũng có quyền pháp lý và được bảo vệ như những công dân. Mỗi cây đều có hồ sơ lý lịch và được quản lý bằng máy vi tính. Canberra của Úc được coi là một trong những thành phố xanh nhất thế giới với tỷ lệ ba cây xanh trên một đầu người.
Nếu đồ án quy hoạch ảnh hưởng xấu cho khoảng không gian xanh cũng bị từ bỏ ngay.


uc4

Ưu tiên thứ ba là tài nguyên và thổ nhưỡng. Tài nguyên khoáng sản của Úc khá phong phú được bảo vệ và gìn giữ như “của để dành” cho thế hệ mai sau.


Nếu dưới vùng đất định quy hoạch có khoáng sản thì trước hết người ta sẽ sơ bộ lập phương án khai thác, xem xét tình hình biến động của loại khoáng sản trên thị trường thế giới để tiên đoán thời gian cạn kiệt mà Úc phải khai thác (có khi là cả trăm năm sau), và vào thời điểm đó thì khai thác như thế nào. Đồ án quy hoạch không được ảnh hưởng đến việc khai thác sau này.


Thổ nhưỡng cũng rất được coi trọng, đặc biệt là những vùng có điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất những sản phẩm nông nghiệp có giá trị cao trở thành lợi thế cạnh tranh của Úc trên thị trường thế giới.


Bền vững về kỹ thuật là tiêu chí quan trọng thứ ba. Đồ án quy hoạch được coi là bền vững kỹ thuật khi tích hợp được mọi yêu cầu hạ tầng kỹ thuật một cách đầy đủ và đồng bộ với các phương án hợp lý bảo đảm cho cuộc sống văn minh lâu dài.


Ví dụ khi quy hoạch một tuyến đường, người ta đưa tất cả các công trình phụ trợ cần thiết như điện, nước, thoát nước, viễn thông, cây xanh, chiếu sáng v.v... vào chung một dự án. Tiến độ thi công cũng được lập rất cụ thể chi tiết và đồng bộ, xây trước, xây sau nhịp nhàng và hợp lý. Không đào đi đào lại gây lãng phí.


Khi dự án hoàn thành, các công trình phụ trợ sẽ được bán lại cho nhà cung cấp dịch vụ tương ứng. Những công trình như cấp thoát nước, môi trường, cây xanh, chiếu sáng v.v... không thu được vốn từ nhà cung cấp dịch vụ thì chi phí được tính vào giá đất.


Quan điểm lựa chọn công nghệ cũng là điều đáng chú ý. Người Úc coi công nghệ tốt nhất là công nghệ phù hợp nhất. Phù hợp với sự tiến bộ, với năng lực vận hành, với điều kiện sinh thái, điều kiện kinh tế - xã hội v.v... Cái gì cần hiện đại thì phải làm rất hiện đại, cái gì mà giản đơn còn phù hợp thì vẫn giữ lại đơn giản như bản chất vốn có.


Bền vững về tài chính là tiêu chí quan trọng cuối cùng. Công tác phân tích kinh tế - xã hội và tài chính được thực hiện rất nghiêm ngặt ở giai đoạn ba - quy hoạch sơ bộ - và thẩm định lại ở giai đoạn cuối cùng, nhằm tính toán mọi chi phí cần thiết để đầu tư, vận hành, bảo dưỡng, và quản lý.


Người ta lập mô hình tài chính đầy đủ cho toàn bộ vòng đời của công trình. Thậm chí là chi phí để phá dỡ sau khi công trình hoàn thành sứ mệnh tồn tại (có khi cả trăm năm sau) cũng được dự toán rất chi tiết.


Từ những kinh nghiệm mà ông Cameron Nelson cung cấp, tôi nghĩ rằng nước ta hoàn toàn có thể áp dụng. Bởi theo ông thì Úc cũng đã từng trải qua một thời gian gặp phải vô vàn khó khăn về vấn đề quy hoạch, giống như hoàn cảnh của nước ta bây giờ, nhưng nhờ biết thực hiện tốt 4 tiêu chí bền vững mà Úc đã mau chóng trở thành một trong những nước sớm thoát khỏi những vướng mắc trong quy hoạch đô thị.



TS Trương Tiến Hải

Phong thủy và quy hoạch phát triển đô thị

17:14

Khái niệm Phong thuỷ từ trước đến nay luôn được hiểu một cách mơ hồ và đôi khi mang màu sắc thần bí. Nhưng hiểu theo nghĩa đen của ngôn từ thì Phong là gió, Thuỷ là nước, phong thuỷ tức là tìm hiểu về hình thế của địa hình để tìm ra thế đất tốt. Cách hiểu này cũng không hẳn là sai nhưng chưa hoàn chỉnh và đầy đủ. Ngoài ra còn nhiều cách hiểu khác như cho rằng Phong thuỷ là một hiện tượng văn hoá, một loại thuật số chọn lành tránh dữ; hoặc Phong thuỷ còn gọi là Kham Dư, chỉ địa thế, phương hướng nhà ở, mồ mả để chọn lành tránh dữ; phong thuỷ là khoa học, đất, nước và gió....nhưng về cơ bản đều chưa thực sự phản ánh đầy đủ tính chất của môn phong thuỷ. Thậm chí đôi khi người ta còn lẫn lộn giữa phong thuỷ với các hình thức tín ngưỡng như cúng bái, bùa chú. Và trong Phong thuỷ chia ra làm nhiều trường phái, phương pháp nghiên cứu như là : Dương trạch, Bát trạch, Huyền không, Hình lý khí...

Từ cách giải thích thuật ngữ Phong thuỷ của Quách Phác đời Tấn ( Trung Quốc ) trong Táng Kinh “ Táng (chôn) là đón sinh khí. Khí gặp Phong (gió) tất tán, gặp nước ngăn lại tất dưỡng. Vì vậy gọi là Phong thuỷ”. Ta có thể suy luận rằng trước đây thuật Phong thuỷ chủ yếu chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu sự vận động của các dòng chảy và không khí (gió) phục vụ cho mục đích đặt mồ mả, âm phần. Mà trong thuật địa lý âm phần thì để tìm ra vị trí đất tốt trước tiên người ta phải dựa nhiều vào hình thể, sự vận động của các dòng nuớc. Và từ đó khái niệm Phong thuỷ được hiểu đơn giản là Gió và Nước. Tuy nhiên càng về sau này con người nhận biết được nhiều quy luật của sự tương tác giữa tự nhiên, hoàn cảnh môi trường sống với người sống nên tiếp tục phát triển thuật phong thuỷ để xây dựng nhà cửa, công sở.

Đến nay Phong thuỷ vẫn thường được coi là một môn lý học mang màu sắc thân bí, nhưng nếu một lý thuyết được coi là khoa học khi “giải thích hợp lý được hầu hết những vấn đề có liên quan một cách thống nhất và có quy luật tiên tri” thì từ những tổng hợp tri thức cổ đại và hiện đại chúng ta có thể đưa ra một khái niệm về Phong thuỷ hiện đại như sau: Phong thuỷ là một môn khoa học nghiên cứu về những quy luật vận động, tương tác của tự nhiên và con người để điều chỉnh hoặc tận dụng những sự tương tác đó phục vụ cho mục đích của con người trong cuộc sống.Và trong Phong thuỷ vấn đề cơ bản là tìm hiểu sự ảnh hưởng của các dòng “khí” do sự vận động của tự nhiên và con người tạo ra. “Khí” ở đây có thể hiểu là một dạng vật chất được tạo thành từ những sự tương tác và được chia làm 2 dạng là âm khí (khí hình thành do sự vận động nội tại) và dương khí (khí hình thành do sự tương tác bên ngoài). Khí được tạo thành từ sự tương tác nội tại của vật chất ví dụ như địa khí hình thành từ sự vận động nội tại của Trái đất dẫn đến sự hình thành của địa hình, sông núi, ao hồ; khí hình thành từ sự tương tác bên ngoài, ví dụ như sự tương tác của Trái đất với những hành tinh khác trong vũ trụ, hoặc từ sự tương tác trên trên bề mặt Trái đất tạo ra sự sinh trưởng của vạn vật, hình dáng của kiến trúc; từ sự tương tác của các vật thể trong một ngôi nhà, từ sự tương tác của môi trường xung quanh với cấu trúc nhà ở, từ sự vận động của con người trong môi trường tác động đến cuộc sống, quyết định của con người...

Khi hiểu được bản chất của những sự tương tác và vận động của “Khí” thì sẽ hiểu được bản chất của Phong thuỷ, đồng thời có thể xét đoán được tính hợp lý của những lý thuyết phong thuỷ khác nhau.

Khí tạo ra hình, hình quy định sự vận động của khí. Ví dụ khí Kim thì vật hình dạng tròn, khí Mộc thì vật dài, khí Thổ thì vật vuông, khí Hoả thì sắc nhọn, khí Thuỷ thì hình dáng uốn lượn mềm mại. Khí thanh thì hình thuần khiết mà đẹp, khí tạp thì hình thô lậu, vụn vặt, thiếu cân đối. Khí thanh mà hài hoà thì con người sáng suốt; khí trực thì tính cách nóng vội, cực đoan dễ sai lầm dẫn đến hao người, tốn của.

Sự vận động của Khí không chỉ ảnh hưởng hưởng đến sự hình thành của vật chất mà khí còn tương tác ảnh hưởng trực tiếp tới ý thức của con người như tinh thần, thái độ, phong cách sống, tính cách, sự sáng tạo, kỷ cương pháp luật...(ý thức cũng là một dạng vật chất, ý thức nảy sinh từ nền tảng vật chất nên cũng chịu sự tương tác của vật chất - Vật chất hay ý thức - dungkq). Sống trong một ngôi nhà hoặc môi trường có kiến trúc vụn vặt, tạp loạn, nhiều góc cạnh xung đột, nhiều rác thải, nhiều đường ngang ngõ tắt sẽ khiến cho tư duy của con người ta khó tập trung, cố chấp, dễ xung đột, xô bồ, thiếu tính sáng tạo, thiếu sự tôn trọng pháp luật, dễ phạm tội.

Những con đường tốc độ cao nhưng nhiều nhánh ngang vòng vèo, tự phát thì khí bị tạp loạn và khiến người điều khiển giao thông mất tập trung, nóng nảy, xử lý thiếu chính xác từ đó dễ xảy ra tai nạn.

Những toà nhà văn phòng, khu chung cư lệch lạc, hình dáng và cấu trúc không thanh thoát, nặng nề thì dễ nảy sinh mâu thuẫn nội bộ, bệnh tật, kiện tụng, tư duy hạn hẹp, làm việc thiếu chuyên nghiệp. Hoặc những khu dân cư, đô thị thiết kế không gọn gàng tạo ra những ngóc ngách tù túng, chắp vá mất vệ sinh cũng dần dần làm cho tinh thần, ý thức của bộ phận dân cư sống trong môi trường đó phát triển theo chiều hướng nhỏ nhặt, luẩn quẩn, lười biếng, tiêu cực và từ đó nảy sinh tệ nạn, phạm tội. Những ví dụ trên có thể thấy được rất rõ ràng trên thực tế.

Những căn nhà hoặc khu đô thị bị thoái khí thì ế ẩm, đời sống sinh hoạt của cư dân thấp và nếu không có sự điều chỉnh hợp lý mà địa hình ngày càng thay đổi bất lợi thì có thể dẫn đến hoang phế.

Phong thuỷ không đồng nghĩa với những hình thức cúng bái, bùa chú, trấn yểm thần thánh hoặc bị pha tạp màu sắc của sự huyền bí không giải thích được. Bản chất của phong thuỷ là điều chỉnh những sự tương tác giữa môi trường và con người. Phong thuỷ hay kiến trúc đều nhằm mục đích tạo ra những không gian sống an toàn, khoẻ mạnh và thuận tiện cho sự phát triển của con người.

Người kiến trúc sư có thể không hiểu về những nguyên tắc tính toán trong phong thuỷ nhưng bằng con mắt nghề nghiệp, sự nhạy cảm thì khi thiết kế một ngôi nhà hoặc 1 khu đô thị cũng sẽ có sự trùng khớp với những giải pháp thiết kế của nguyên tắc phong thuỷ. Và ngược lại một kỹ sư phong thủy khi tính toán đúng cũng sẽ đưa ra những giải pháp phong thuỷ tương đồng về mặt thẩm mỹ, công năng sử dụng giống như người kiến trúc sư. Chính vì vậy nên có nhiều công trình mặc dù không có sự tham gia của Phong thuỷ nhưng vẫn tồn tại bền vững và tạo ra sự phát triển, ví dụ điển hình như toà nhà Trắng của Mỹ, bất cứ thầy phong thuỷ giỏi nhất thế giới nào cũng chỉ mong đạt đến trình độ của người kiến trúc sư trưởng đã lựa chọn vị trí và thiết kế toà nhà đó. Tuy nhiên vì do hệ thống các nguyên tắc ứng dụng khác nhau nên giữa người thiết kế phong thuỷ và kiến trúc sư hay bị mâu thuẫn khi đưa ra giải pháp nhằm đáp ứng trọn vẹn yêu cầu của công trình cả về mặt kiến trúc và phong thuỷ, đạt được vẻ đẹp về kiến trúc thì lại mâu thuẫn với nguyên tắc phong thuỷ và ngược lại, đúng nguyên tắc Phong thuỷ thì lại mất yếu tố thẩm mỹ. Nhưng đó chỉ là những thiết kế rời rạc vì tuy khác nhau về nguyên tắc, hệ thống công cụ tính toán nhưng một kiến trúc sư giỏi hay một kỹ sư phong thuỷ tài năng cũng sẽ đều đưa ra giải pháp hợp lý cho một bài toán thiết kế để đạt được mục đích đề ra.

Ví dụ, khi xây một ngôi nhà lớn để tiết kiệm tài chính, nguyên liệu và giảm tải cho hệ thống kết cấu thay vì làm rầm treo kiến trúc sư bắt buộc phải thiết kế rầm ngược nhưng hệ thống rầm ngược đó lại mâu thuẫn với những giá trị về mặt phong thuỷ vì sẽ khiến cho không gian bên dưới bị chia cắt thiếu sự thông thoáng thẩm mỹ và tạo ra những áp lực làm dòng khí vận động trong ngôi nhà bị xáo trộn dần dần sẽ khiến cho tư duy của những người sống trong môi trường đó thiếu sự thông thoáng dẫn đến những mâu thuẫn nội bộ. Nếu một người kiến trúc sư thiết kế thêm 1 hệ thống trần giả làm cho không gian bên trên bằng phẳng với những hoa văn hợp lý thì không những đẹp về mặt thẩm mỹ mà còn giải quyết được bài toán về mặt phong thuỷ, và nếu một kỹ sư phong thuỷ thực sự khi sửa phong thuỷ thì cũng sẽ đưa ra giải pháp như vậy để đạt hiệu quả tối ưu nhưng vẫn tiết kiệm thay là treo trên trần những vật dụng mà đôi khi đạt về phong thuỷ nhưng lại thiếu thẩm mỹ. Thậm chí một người không có kiến thức chuyên môn về phong thuỷ hay kiến trúc nhưng đang trong thời kỳ thể trạng sung mãn, tư duy khoáng đạt cũng sẽ đưa ra được những ý tưởng thiết kế ngôi nhà của mình phù hợp với những nguyên tắc của phong thuỷ chỉ mục đích đơn giản là “nhìn cho vừa mắt” hoặc hợp với “gu thẩm mỹ” mà không biết rằng vô hình dung đang tự thiết kế phong thuỷ cho mình. Chỉ khác nhau là người làm phong thủy tự phát sẽ không kiểm soát được hành động của mình, nếu có tốt thì cũng không biết được tốt vì sao và nếu xấu thì vì sao xấu.

Tuy nhiên, về cơ bản kiến trúc chỉ chú trọng đến thẩm mỹ, công năng sử dụng, còn phong thuỷ mới tập chung vào việc nghiên cứu và điều chỉnh các sự tương tác đáp ứng được nhiều mục đích khác nhau của con người. Giả như nét đẹp thẩm mỹ của kiến trúc và sự điều chỉnh của phong thủy mâu thuẫn với nhau không thể khắc phục thì nên đề cao sự điều chỉnh của phong thuỷ. Khi đã coi kiến trúc là một môn học ứng dụng trong việc thiết kế thì cũng có thể coi Phong thuỷ là một môn học ứng dụng trong kiến trúc xây dựng đô thị. Hiểu được bản chất của Phong thuỷ và những quy luật vận động của tự nhiên thì cũng có thể kết hợp cả kiến trúc và Phong thuỷ để đưa ra giải pháp tối ưu thoả mãn những giá trị thẩm mỹ, công năng sử dụng, an toàn, phát triển cho một công trình xây dựng hoặc một bản quy hoạch đô thị làm thay đổi cuộc sống của một con người, một gia đình hay một đất nước.

Hành vi của con người bị quyết định bởi ý thức, ý thức chịu sự tương tác của môi trường nên hành vi, cách ứng xử của mỗi người ảnh hưởng nhiều từ môi trường sống. Muốn người dân có tinh thần tôn trọng pháp luật, tư duy làm việc chuyên nghiệp, hạn chế tệ nạn trong những vùng đô thị thì nhà nước phải có những chiến lược quy hoạch hợp lý từ tổng thể đến chi tiết tuân thủ những nguyên tắc về sự: thống nhất, gọn gàng, thoáng đãng, vệ sinh, thuận tiện.

Bài học phố cổ

17:05

Từ gần hai chục năm nay, chúng ta nghe nói về bảo tồn phố cổ Hà Nội, và than thở về sự bất lực của việc bảo tồn. Tuy nhiên, chưa thấy ai làm rõ một điều, đó là chính những nỗ lực bảo tồn mới là tác nhân làm hại phố cổ nhất, và không những thế, nó là những định hướng hết sức sai lạc và phản khoa học, khiến cho thành phố Hà Nội cũng như đại đa số các đô thị ở Việt Nam phát triển không lành mạnh. Và đây cũng là một lý do để sau hàng ngàn bài viết về phố cổ, vẫn cần phải có một phân tích rõ ràng về vấn đề này.

Xác định sai đối tượng bảo tồn

Theo đa số những quan điểm bảo tồn cho đến nay thì bản sắc của khu 36 phố phường được tạo bởi những yếu tố sau:
- Hình ảnh Phố Phải, với tường rêu xanh mốc, mái ngói lô xô.
- Nhà ống, hẹp 3-5m, sâu 40-60m, có xen kẽ giếng trời.
- Lịch sử phường hội, mỗi phường một nghề, có cấu trúc làng đô thị, với đình làng, đến, miếu, cổng làng… Sai này phát triển thành các phố hàng, mỗi phố bán một loại sản phẩm.
- Kiến trúc phố cổ đa số là nhà kiểu truyền thống, kiến trúc gỗ ngói, vì kèo, mặt tiền thấp, một tầng đến tầng rưỡi, đan xen với một số kiến trúc từ thời Pháp. Hiện trong phố cổ còn một số công trình đặc trưng của từng thời kỳ, là đối tượng chính của bảo tồn.
- Có một thứ gọi là thanh lịch Tràng An, niềm tự hào phố cổ, của những người dân gốc Hà Nội. Ngoài ra có một số lịch sử, văn hóa, danh nhân gắn liền với khu vực phố cổ. Tất cả tạo chung thành một văn hóa phố cổ, là không khí phố cổ, giá trị bảo tồn phi vật thể.

Tuy nhiên, nếu ta phân tích kỹ thì:
- Kiến trúc nhà ống, cấu trúc phường hội không phải chỉ riêng ở phố cổ Hà Nội mới có mà là hiện tượng chung ở nhiều đô thị tiền công nghiệp trên thế giới. Bản thân ở Hà Nội, những đặc điểm đó cũng không có lịch sử thực sự lâu dài mà đa số mới hình thành cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Như vậy, nếu xét về đặc điểm kiến trúc tổng thể thì Hà Nội đã không thể so sánh được với những khu đô thị tiền công nghiệp tương tự có lịch sử hàng ngàn năm như Edingburgh, Bruxel hay Lệ Giang.
- Phố cổ không có công trình vật thể có tầm cỡ nào. Những công trình bình thường thì lạc hậu về công nghệ, điều kiện sống, sinh hoạt rất khó khăn. Mà kể cả những công trình bình thường thì đến nay đã bị mất gần hết, những cái còn thì lại cũng xuống cấp nghiêm trọng và khó dùng lâu dài. Vì vậy, nếu ta theo cách bảo tồn thông dụng của thế giới là bảo tồn nguyên trạng thì không còn mấy công trình đáng bảo tồn, xây dựng mới lại theo thiết kế cũ thì cũng rất tốn kém và không có ý nghĩa sử dụng nữa.
- Cái gọi là thanh lịch Tràng An, không khí phố cổ bao gồm những yếu tố gì, bảo tồn bằng cách nào, chưa được nêu một cách rõ ràng. Một điều rất rõ là khu phố cổ vốn là khi Kẻ Chợ, gồm người dân tứ xứ đổ về và sau này thì lại càng rõ như vậy. Đó không phải là một vùng đất thâm căn cố đế của một vài dòng tộc lớn có nét văn hóa riêng.


Xác định sai vấn đề bức xúc

Theo các báo cáo thì vấn đề phố cổ chủ yếu là:
- Hạ tầng thiếu thốn, ngày càng xuống cấp. Đường sác chật hẹp, không có chỗ để xe.
- Mật độ dân quá cao, trên 600 người/ha, có nơi tới gần 1000 người/ha. Nhà cửa chật chội, ẩm thấp, ít ánh sáng, điều kiện vệ sinh tồi tệ.
- Chênh lệch giàu nghèo, xã hội phức tạp.
- Gần đây có nhiều biến đổi do cơi nới, xây mới, làm mất bản sắc xưa.

Tất nhiên các vấn đề nêu trên là đúng ở một góc độ nào đó, có điều ta phải nghĩ đến những khía cạnh sau:
- Tuy đường sá chật hẹp, hạ tầng thiếu thốn nhưng phố cổ vẫn là nơi ít tắc đường, chỉ số ô nhiễm ồn, bụi, nguy cơ ngập lụt thấp so với toàn nội thành Hà Nội.
- Mặc dù điều kiện ở tồi tàn, chật chội nhưng không mấy người muốn rời bó phố cổ. Giá nhà, đất ở phố cổ vẫn cao nhất Hà Nội, chứng tỏ khu vực này được đánh giá tổng thể là rất hấp dẫn.
- Tuy chênh lệch giàu nghèo cao, nhưng hiện nay thu nhập trung bình của dân phố cổ gấp 1,5 lần dân Hà Nội nói chung. Mặt khác, chúng ta biết là vấn đề chênh lệch giàu nghèo vốn là vấn đề tổng thể. Ta có thể phân riêng người giàu ra một nơi, người nghèo ra mtoj nơi nhưng không thể giải quyết tận gốc sự chênh lệch trong xã hội.
- Đúng là có những biến đổi không tốt, nhưng không phải biến đổi nào cũng là không tốt. Khi những giá trị cần bảo tồn đã không được xác định đúng thì việc đánh giá tác hạ của việc không tuân thủ bảo tồn cũng không chính xác. Mặt khác, thực tế xây dựng trên đã tỏ rõ sự bất lực của quy chế bảo tồn hiện hành.

Từ hai phân tích chính trên đây cho thấy quan điểm cho rằng phố cố nhìn chung là có vấn đề nghiêm trọng cần giải quyết, như một bông hoa đẹp của quá quý hiện đang bị rữa nát không thuốc chữa, là cần phải xem lại.

Chúng ta biết rằng đại đa số các quan điểm bảo tồn phố cổ trên thế giới xuất phát từ các nước phát triển như ở châu Âu, Nhật Bản. Ở đó, vấn đề phố cổ có thể nói chung là một khu vực có lịch sử hàng ngàn năm, với vô số công trình rất có giá trị, không gian sống và cảnh quan rất tốt nhưng bị bỏ rơi, lãng quên vì người dân không muốn ở đó nữa mà chuyển đến những đô thị công nghiệp hiện đại. Nhưng sau này người ta đã thấy được nhiều cái dở của đô thị hiện đại và tái phát hiện ra những giá trị sống của khu phố cổ trong kỷ nguyên mới của thời đại dịch vụ, du lịch. Vì thế người ta mới thực hiện những chương trình bảo tồn chủ yếu bằng cách làm sống động lại khu vực này, tạo công ăn việc làm mới, thu hút du khách… biếm nhjuwnxg khu này thành những trọng điểm của nền kinh tế du lịch hiện đại.

Ở phố cổ Hà Nội hiện nay, chúng ta có tình huống khác hẳn: Một khu phố có điều kiện kỹ thuật tồi tàn, lịch sử vật thể cũng tương đối mới, không có công trình nào thực sự đáng giá, nhưng cả người dân lẫn du khách đều đổ xô vào đó, bất chấp giá cả đắt đỏ. Như vậy có nghĩa là dù có tất cả những nọc độc và gai góc, bông hoa phố cổ hiện tại vẫn đang được xã hội đánh gia là bông hoa quý nhất, đẹp nhất. Vậy mà thay vì nhận ra cái đẹp đó, thưởng thức nó và học theo nó thì chúng ta lại chỉ nhìn thấy nó là một đống đổ nát của một thời quá khứ hoàng kim đằng nào cũng không thể cứu vãn được.

Nguy hiểm hơn nữa, việc lầm tưởng những vấn đề lạc hậu, bất cập của phố cổ thành giá trị bảo tồn, và cho thế mạnh thực sự là vấn đề của nó, dẫn đến định hướng quy hoạch một loạt khu đô thị mới nhắm “tránh những sai lầm phố cổ”, kết quả là tạo ra những đô thị mới thực sự kém bản sắc và thiếu sức sống.

Bằng chứng của điều đó rất hiển nhiên: Nếu anh đã nói phố cổ tồi tàn, xuống cấp, lạc hậu như vậy và anh xây khu đô thị mới hiện đại, tốt đẹp hơn thì người ta sẽ phải rời khu phố cổ đến phố mới, để lại khu phố cổ tồi tàn cho lớp dân nghèo như các nước đang phát triển ở Nam Mỹ, Trung Mỹ. Vậy mà ở Hà Nội thì sau vô số khu đô thị mới, giá đất phố cổ vẫn cao nhất, người vẫn đông nhất, và thu nhập bình quân vẫn cao nhất. Điều đó cho thấy bài học của chúng ta đã sai về cơ bản. 

Giá trị đích thực của phố cổ

Với một độ hấp dẫn vượt trội như vật, phố cổ chắc chắn phải có một giá trị đích thực. Xác định được giá trị này mới là cơ sở để bảo tồn.

Hà Nội mang tên Thăng Long từ ngày định đô một ngàn năm trước và giữ được tgeen này trong ký ức mỗi người, nhưng hẳn ít người thực sự đặt câu hỏi hay suy ngẫm về cái tên này. Cái tên Thăng Long có thể có nhiều nghĩa, nhưng chắc chắn nó bao hàm mong muốn của cổ nhân về thành phố của mình. Nói về con rồng, có lẽ chúng ta đều hình dung về một loài bò sát nhiều vảy, sáng lấp lánh vàng hay ngũ sắc, nhưng mà hình thù cụ thể thì biến ảo khôn lường. Cái đẹp của phố cổ cũng như vậy, gồm rất nhiều mảnh nhỏ ghép lại, có thể biến đổi rất nhanh, linh hoạt như một con kỳ nhông. Những đặc điểm làm nên cái đẹp biến hình này là:

Mật độ cao. Con rồng muốn đẹp phải có vô số vảy, như vậy cần phải có mật độ rất cao. Mật độ phố cổ, nhất là khi mọi người đều tự nguyện và muốn ở đó, là một thế mạnh chứ không phải điểm yếu. Chúng ta phải hiểu rằng trong cơ chế thị trường, giá đất cao đi với sự tập trung mật độ đông dân số là bằng chứng thuyết phục nhất cho độ hấp dẫn và bền vững của một khu đô thị. Vì vậy bài toán bảo tồn đặt ra cho phố cổ là phải làm sao giữ được mật độ dân một cách tự nguyện chứ không phải là giãn dân.
Làm sao đừng để xảy ra giống như phương Tây là để dân bỏ hết khỏi phố cổ rồi mới nghĩ cách gọi họ lại. Và bài toán đối với các khu đô thị mới la làm thế nào học theo phố cổ để đạt được mật độ cao chứ không phải là tạo ra những khu đô thị lạnh lẽo rộng thênh thang kiểu hiện đại. Tấm gương phố cổ với trên 60.000 dân chỉ chiếm có 100ha đất đô thị là bài học lớn phản biện tư duy quy hoạch cho rằng sinh thái phải là mật độ thấp, điều đã dẫn đến sự phát triển tràn lan của những khu đô thị mới, mỗi khu có thể vài trăm ha thậm chí vài ngàn ha mà bên trong rỗng tuếch. Ngoài ra, vì muốn giãn dân, người ta đã trì hoãn việc hợp thức hóa quyền sử dụng đất cho nhiều đối tượng trong phố cổ. Nhưng điều đó dẫn đến người dân sẽ coi khu phố này là chỗ ở tạm bợ và không đầu tư, khiến cho nó càng xuống cấp. Mặt khác, do không có giấy tờ nên việc chuyển nhượng cũng khó khăn, nhiều người muốn mua lại, cải tạo không gian sống cũng không phải dễ dàng. Cùng với những dự án treo về bảo tồn kiến trúc thì ý đồ muốn giãn dân phố cổ đã mang lại thảm họa lớn cho khu phố này.

Đa dạng thành phần.
Sự đa dạng màu sắc của con rồng được tạo bởi sự đa dạng về tuổi tác, thu nhập, quê quán, học thức… Đó chính là bản chất của nơi đô hội, chốn thị thành, cũng là bản chất của không gian phi vật thể phố cổ. Về công năng, người giàu phải có người nghèo phục vụ mới bỏ công giàu, người nghèo phải có người giàu mới kiếm được bát cơm. Tất cả cần sống dựa vào nhau, bổ trợ cho nhau như một quần thể cộng sinh trong rạn san hô. Vậy mà ta lại cho sự đa dạng này là chênh lệch giàu nghèo, mâu thuẫn xã hội cần phải được giải quyết. Từ đó dẫn đến quy hoạch những khu đô thị mới theo chủng loại: khu biệt thự đại gia, khu giáo sư, khi quan chức, khu ở cho người thu nhập thấp… Như thế khác nào biến từ một khu rừng nguyên sinh đa dạng thành vài lâm trường trồng cây thuần loài đơn điệu, nhàm chán. Từ sự sai lạc về quan điểm dẫn đến việc lấy những khu đô thị như Ciputra, Phú Mỹ Hưng làm mẫu cho cả nước, gây biết bao hậu quả nghiêm trọng lâu dài. Và đây là lý do chính khiến cho các khu đô thị mới không hấp dẫn và không thể thay thế khu phố cổ.

Chia nhỏ kiến trúc.
Thế mạnh của phố cổ thực ra không phải nhà ống, cũng không phải một dạng mặt tiền này khác, mà là sự chia nhỏ đơn nguyên kiến trúc. Và thế mạnh của sự chia nhỏ này là khả năng thích nghi, thay đổi của từng đơn nguyên mà không làm ảnh hưởng đến tổng thể. Cũng khống như con kỳ nhông, con mực, nhờ có vô số điểm sắc tố trên da mà có thể biến màu liên tục và vẫn giữ được tổng thể hài hòa. Trong khi đó, những khối công trình lớn thì chết cứng một thời gian rất dài mà không có khả năng thay đổi. Đây chính là thế mạnh cơ bản nhất của những cấu trúc đô thị cổ so với dạng đô thị hiện đại khối lớn ở phương Tây, giống như thế mạnh của loài động vật nhỏ so với loài khủng long trong chuỗi tiến hóa. Vì vậy điều quan trọng trong bảo tồn phố cổ không phải là bảo tồn dạng nhà ống, cũng không phải là bảo tồn nguyên trạng một vài công trình di tích, hay giữ nguyên mặt tiền, mà là khống chế không cho tạo các khối quá to, quá cao và khuyến khích sự thay đổi liên tục để cập nhật với nhu cầu, công nghệ, thời đại. Phố cổ không thể bị đóng băng mặt tiền tại một thời điểm nào đó, vì như vậy sẽ mất đi thế mạnh lớn của nó, làm giả đáng kể sức sống, sức hấp dẫn và khả năng thích nghi của nó.
Và chính việc đánh giá sai ưu điểm của sự đa dạng bị coi là nhược điểm lộn xộn đã làm thình thành nên những khu đô thị mới gồm hàng trăm biệt thự giống hệt nhau như Ciputra và những khu nhấn mạnh các khối nhà lớn kiểu phương Tây như The Manor. Ngoài mặt tiền chia nhỏ thì cấu trúc nhà ống rất dài cho phép phân chia không gian thành nhiều cấp bậc đắt rẻ, nhiều dạng không gian sử dụng khác nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều thành phần xã hội có thể cư trú. Vì vậy nếu chỉ đơn thuần là mở thêm các đường mới vào giữa các lô phố như một số ý kiến đã đề xuất, thì sẽ làm giảm sự đa dạng của nó. Và dạng nhà ống dài với phân cấp không gian do đó cũng là một bài học tốt cho các đô thị mới. Tuy nhiên, mục đích là bảo tồn sự đa dạng thành phần chứ không phải nhà ống, vì vậy sẽ có nhiều giải pháp cải tạo đảm bảo sự đa dạng này và giảm thiểu được những hạn chế kỹ thuật của nhà ống.

Chia ngắn lô phố một cách linh hoạt.
Tính biến hóa, linh động của con rồng đô thị trong cảm nhận được góp phần đáng kể bởi việc chia nhỏ ô phố mà không phải kẻ ô vuông. Khi đó, mỗi phố sẽ có một không gian khác, một góc nhìn khác, tạo điều kiện thuận lợi cho những công năng sử dụng đa dạng. Những cấu trúc phường hội, mỗi phố bán một loại hàng làm tôn thêm tính đặc trưng của mỗi tuyến phố và do đó là một ưu điểm nên khuyến khích. Tuy nhiên việc có giữ được mỗi phố bán một loại hàng như trong lịch sử hay không là điều không thể gượng ép.
Thế mà ngày nay, những lô phố tự do ở khu phố cổ lại bị cho là rối loạn và không thuận tiện gia thông, vì vậy ở các khu đô thị mới rất thích làm các dạng kẻ ô vuông, với những trục dài hoành tráng mà không hiểu rằng những trục đường lớn này không bao giờcó được ưu điểm của hệ thống 36 phố phường.

Giao thông chậm. Một quy luật rất rõ ràng của đô thị là giao thông chậm thì thương mại dịch vụ mới phát triển, còn giao thông nhanh như đường cao tốc thì hai bên chỉ là vùng trăng. Giao thông ở 36 phố phường đúng như những luồng khí trong phong thủy, nghĩa là chảy chậm, len lỏi vào mọi nơi nhưng không bao giờ ách tắc. Để phát huy đặc điểm này thì nên khuyến khích đi bộ, các loại xe đạp, xích lô. Thế nhưng ngày nay chúng ta lầm tưởng tốc độ ô tô mới là hiện đại và cho rằng giao thông phố cổ là quá chậm. Ở phố cổ, chúng ta tìm mọi cách để đường thông hè thoáng, dẹp hết hàng rong, cấm đoán bán đêm, làm giảm sức sống của nó. Ở các khu đô thị mới thì chúng ta thiết kế đường thẳng, ô tô vào tận nhà. Cuối cùng là tạo ra những khu đô thị lúc thì vắng trơ, lúc thì tắc nghẽn, chỗ nào cũng có thể nguy hiểm tai nạn giao thông mà chẳng có điểm nào dừng chân. 

Tóm lại, tất cả các thế mạnh chính của khu phố cổ đang bị coi là vấn đề, và quá trình người ta tìm cách khắc phục vấn đề chính đã làm giảm thế mạnh của phố cổ. Đồng thời việc tránh các “sai lầm phố cổ” đã tạo ra những phố mới kém hơn hẳn.

Nhân đây tôi xin nói là tất cả các thế mạnh phố cổ mà tôi nêu trên không phải là ý kiến cá nhân, mà là một trong những lý thuyết quan trọng nhất của đô thị học hiện đại, được mô tả kỹ lưỡng trong cuốn sách Cái chết của các đô thị Mỹ của Jane Jacobs năm 1969. Từ đó, những đặc điểm này được coi là ưu điểm của một đô thị hậu hiện đại mà mọi quy hoạch đều cố gắng đạt đến. Chỉ có điều đối với những đô thị từ thời công nghiệp ở phương Tây thì khả năng chuyển đổi để đạt được những tiêu chí trên là rất khó, trong khi các đô thị cổ thì lại có các đặc điểm đó. Và đó cũng là lý do của phong trào bảo tồn, tái tạo các khu đô thị cổ ở phương Tây/ Phố cổ Hà Nội có may mắn là không bị phong trào hiện đại phá hủy, vì vậy nó có tất cả những tiền năng chính của một đô thị hậu hiện đại.

Tuy nhiên, một đô thị hậu hiện đại không phải là tiền hiện đại, vì thế phố cổ Hà Nội phải biến đổi để thích nghi với hoàn cảnh mới. Và phố cổ Hà Nội lại có thế mạnh so với các đô thị cổ phương Tây ở chỗ nó không có nhiều công trình quan trọng cần phải giữ. Vì thế thế, thông điệp cuối cùng là: Hãy nhìn phố cổ Hà Nội dưới góc độ cơ may hội nhập vào một chất lượng đô thị tương lai, làm gương cho cả nước chứ không phải là một tập hợp của những công trình cũ kỹ, sập sệ cần phải tu bổ làm bảo tàng.


Phó Đức Tùng 

 

Hiểm họa môi trường từ các nhà nghỉ ở cồn cát ven biển

16:59

Bãi biển Nam Trung Bộ với những cồn cát mênh mông đang trở thành điểm du lịch đắt khách với hàng loạt khu nhà nghỉ. Song do cấu trúc kém bền vững của loại đất cát, việc cắt đất chia lô để xây nhà tạo ra nguy cơ lâu dài đối với môi trường.

Hiện ở nhiều khu vực dọc bờ biển nước ta, đặc biệt từ Lăng Cô chạy vào miền nam, là nơi tập trung nhiều cồn cát, các bãi biển đang bị "xẻ thịt", phân lô để cấp đất cho các nhà đầu tư xây dựng khu nghỉ mát. Tiến sĩ Phó Đức Tùng, Kiến trúc sư cảnh quan, giảng viên Đại học Lâm nghiệp, cho biết chỉ riêng tại vùng Khe Gà (tỉnh Bình Thuận) đã có đến 120 khu, vùng Mũi Né có gần 50, và còn nhiều khu khác đã và đang được xây dựng tại Phan Thiết...

Mỗi khu như vậy rộng vài hecta, trong đó ngoài các khối nhà, còn có bể bơi, hồ chứa nước, khuôn viên cây xanh, thảm cỏ... Ở những bãi biển bình thường, việc xây dựng các cơ sở hạ tầng thường không có ảnh hưởng lớn. Song vùng cồn cát là một hệ sinh thái rất nhạy cảm, nên chỉ một can thiệp rất nhỏ có thể mang lại hậu họa lớn, như xói mòn, trượt cát, sụt lở và phá hủy cảnh quan.

Để xây dựng resort, nhiều nơi cho chặt phá cây rừng để lấy mặt bằng xây dựng hoặc tạo khoảng trống cho tầm nhìn. Việc này đã để lộ những vùng cát yếu trước sức tấn công của gió, và dễ dàng dẫn đến hiện tượng cát bay. Những chỗ trống đó cũng trở nên bất ổn hơn, có thể sụt bất cứ lúc nào do thổ nhưỡng không ổn định. Nhiều nơi nhà đầu tư lại tưởng rằng không chặt cây, mà trồng thêm cây thì sẽ tốt cho môi trường, tạo được cảnh quan. Song với vùng đất cát, vấn đề không đơn giản như vậy. Khi trồng cây trên vùng đất khô hạn, họ phải tưới rất nhiều nước, và chính nước này là nguồn nguy hiểm dẫn đến sụt lở các đụn cát. Đây là điểm rất khác với các vùng đồi trọc nhưng có nền đất bền vững. Ông Tùng cho biết một hiện tượng tương tự đã làm sụt cát, gây chết người ở Phan Thiết cách đây không lâu.

Cũng theo ông Tùng, việc mở đường giao thông xuyên qua đụn cát rất dễ gây sụt lở, vì việc kè ta-luy không đơn giản như ở những vùng đất đồi vững chắc có tính kết dính cao. Chỉ cần bờ kè bị phá một chỗ rất nhỏ do mạch nước ngầm là cát sẽ trôi như lũ và cuốn phăng kè bờ.

Bên cạnh đó, các khu nhà nghỉ thường không có hệ thống xử lý nước thải tập trung, mà cho chảy thẳng ra từ bể phốt. Đất cát lại không có khả năng lọc nước tốt như các loại đất thông thường, nên chất bẩn cứ thế chảy thẳng ra biển, làm ô nhiễm ven biển và chính vùng đất này.

Một căn cứ quan trọng để đánh giá tiềm năng xây dựng nhà nghỉ là thảm thực vật - dấu hiệu về độ ổn định của môi trường. Thông thường càng xa bờ biển, cây cối càng nhiều tuổi hơn. Ở vùng chỉ có cây bụi tuổi đời dưới 25 năm là những vùng mà trong khoảng thời gian 20 năm trước còn chịu nhiều thiên tai lớn, khiến cho cây cối không trụ được. Những vùng này nói chung chưa đủ độ ổn định để xây dựng lâu dài. Trong khi đó, đa số các khu nhà nghỉ ở Việt Nam đều xây sát biển. Hệ quả của nó sẽ là những nguy hiểm không lường trước được. Thêm nữa, việc xây dựng sát biển cũng can thiệp vào chu trình bồi lấp, cuốn đi của cát biển ven bờ, và chỉ cần một biến đổi nhỏ sẽ kéo theo thay đổi cảnh quan của cả một dải bờ biển.

Vùng cồn cát ven biển mới được đưa vào khai thác du lịch không lâu, song nếu không sớm có các quy hoạch tổng thể để bảo vệ và khai thác một cách bền vững, vùng này sẽ bị hủy hoại nhanh chóng và trở thành sa mạc, phá hủy môi trường và rút ngắn tuổi thọ các công trình. Ông Tùng cho rằng không nên xây dựng các công trình quy mô quá lớn ở đây. Đặc biệt tại những vùng triền dốc phải tuyệt đối hạn chế sử dụng nước và quy hoạch hệ thống nước thải thật tốt. Các công trình kiến trúc nên làm nhỏ, nhẹ, chia tách khối, không dùng móng sâu, vật liệu nặng. Sau cùng, trong cả một dải cồn cát ven biển, nên chọn những địa điểm quan trọng của hệ sinh thái để giữ lại bảo tồn nguyên trạng, không nên "chia lô hết sạch" như ở Phan Thiết hiện nay.

Thuận An

Kinh tế xanh và người phụ nữ đạt giải Nobel kinh tế đầu tiên

07:48


Mùa Nobel 2009 xem ra rất ưu ái phụ nữ: hình như chưa năm nào có được cùng một lúc 5 người phụ nữ được nhận giải thưởng danh giá vào loại hàng đầu thế giới này.


Đó là bà Elizabeth Blackburn, nhà nghiên cứu sinh học người Mỹ gốc Australia tại Trường Đại học California ở San Francisco và bà Carol Greider, giáo sư Khoa Sinh vật học phân tử và gien tại Trường Y của Đại học Johns Hopkins (hai trong ba người được nhận giải Nobel y học 2009); nữ GS người Israel, Ada Yonath, làm việc tại Viện khoa học Weizmann (một trong ba người cùng được nhận giải Nobel hóa học 2009), nữ văn sĩ Đức sinh ra ở Romania Herta Mueller (giải Nobel văn chương 2009) và nhà chính trị học người Mỹ Elinor Ostrom, người phụ nữ đầu tiên được nhận giải Nobel kinh tế.

http://newsinfo.iu.edu/pub/libs/images/usr/3559.jpg


Giải Nobel kinh tế có tên gọi chính thức là Giải thưởng của Ngân hàng Thụy Điển cho khoa học kinh tế để tưởng nhớ Nobel, được lập ra năm 1969. Mục tiêu của nó là để tôn vinh những nhân vật có đóng góp xuất sắc trong lĩnh vực kinh tế học. Hiện nay, giải Nobel kinh tế đã được thừa nhận rộng rãi là giải thưởng danh giá nhất trong lĩnh vực nghiên cứu về kinh tế. Theo một nguồn thống kê, cho tới nay đã có 64 người được nhận giải thưởng này, trong đó có 43 người là công dân Mỹ…

Tạp chí Nga Itogi nhận xét, thông thường có không ít người hoài nghi về vai trò khoa học đích thực của môn kinh tế học vì coi đó là một bộ môn không được diện "căn bản". Và những người này cho rằng, những ai nghiên cứu về kinh tế học không nên được đề cử vào giải Nobel. Hơn nữa, trong giai đoạn hiện nay, khi thế giới vẫn bị chìm trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tôn vinh các nhà kinh tế học là một việc làm, nói một cách nhẹ nhàng, không hợp thời cho lắm. Thế nhưng, Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển cùng với Ngân hàng Quốc gia của nước này đã tìm ra được giải pháp xem ra có thể làm cho "cừu no mà cỏ vẫn nguyên".

Một năm sau khi bùng nổ khủng hoảng kinh tế, Ủy ban Nobel (vốn nổi tiếng về sự ưu ái đối với nền kinh tế thị trường) đã trao giải Nobel về kinh tế học cho hai nhà bác học từng bắt tay vào việc tìm kiếm những con đường phát triển xã hội không khủng hoảng nằm ngoài những tín điều thị trường thông thường. Đó là bà Elinor Ostrom (năm nay 76 tuổi), GS Đại học Indiana cơ sở Bloomington và ông Oliver Williamson (năm nay 77 tuổi), GS Đại học California ở Barkeley.

Nếu GS Oliver Williamson, người sáng lập ra trường phái Kinh tế Thể chế mới, đã được coi như một "nhà kinh điển sống" của kinh tế học thì nữ GS Elinor Ostrom có thể chưa được quá nhiều người biết trên thế giới. Nếu GS Oliver Williamson từng được dự đoán sẽ nhận giải Nobel từ không chỉ một năm trước thì nữ GS Elinor Ostrom hiếm khi nghĩ mình sẽ nhận được vinh dự này. Bởi vậy, nên khi hay tin mình được trao giải Nobel 2009, bà đã thốt lên: "Phản ứng đầu tiên của tôi là sự ngạc nhiên cực kỳ to lớn và sự biết ơn… Được chọn để nhận giải thưởng này là một vinh dự lớn và cho tới bây giờ tôi vẫn cảm thấy bị sốc".

Quả thực là sự lựa chọn năm nay của Ủy ban Nobel đã là một bất ngờ khủng khiếp đối với các chuyên gia. Không ngẫu nhiên mà trong bản tiểu sử in bằng tiếng Pháp của bà Ostrom có cả câu: "Các công trình chưa từng được dịch ra Pháp ngữ". Ngay cả nhà kinh tế học gạo cội người Mỹ Paul Krugman, người đã nhận giải Nobel về kinh tế học năm 2008, cũng đã thú nhận rằng, ông trước đây chưa từng biết chút gì về bà Ostrom… Bù vào đó, các công trình của bà hay được nhà tương lai học lừng danh Francis Fukuyama trích dẫn.

Điều này cũng không có gì quá lạ: nữ GS Ostrom không phải người cùng chiếu với các nhà kinh tế học, bà là một chuyên gia nghiên cứu ở một lĩnh vực hơi khác. Thế nhưng, dù không phải là "người của công chúng", nhưng nữ GS Elinor Ostrom không phải là nhân vật vô danh trong làng khoa học Mỹ. Bà từng học đại học, cao học và tiến sĩ trong ngành chính trị học ở Đại học California ở Los Angeles. Bà được công nhận là nhà nghiên cứu hàng đầu trong lĩnh vực các nguồn lực công cộng…

Nếu ta đọc bản tiểu sử chính thức của nữ GS Ostrom, ta có thể phải kinh ngạc trước sự đa dạng trong những công việc mà bà đã trải qua. Đó thực sự là một phụ nữ quá giàu có năng lực sáng tạo! Bà vừa là thạc sĩ nghệ thuật học vừa là tiến sĩ triết học, vừa là Chủ tịch Hiệp hội Lựa chọn Xã hội - tổ chức khoa học liên kết các nhà kinh tế học, xã hội học và chính trị học. Nữ GS Ostrom từng được nhận một số giải trong lĩnh vực chính trị học như giải Johan Skytte (năm 1999), giải James Madison (năm 2005), giải William H. Riker (năm 2008), và Tisch Civic Engagement Research Prize (năm 2009)…

Nữ GS Elinor Ostrom sinh ngày 7/8/1933 ở Los Angeles. Tuổi thơ của bà trôi qua trong một trang trại nhỏ của gia đình, nơi mẹ bà đã phải tự tay trồng rau quả để có thêm nguồn sống trong những năm Đại Suy thoái. Chính khi đó, những lúc cô bé Elinor giúp mẹ làm vườn, nhà nghiên cứu lỗi lạc tương lai đã hiểu ra một chân lý bất di bất dịch: ngoài món quà chính yếu của Thượng đế là cuộc sống, những điều quý giá nhất đối với con người là đất và nước. Tuổi thơ của Elinor Ostrom là một tuổi thơ thiếu nước, theo đúng nghĩa vật chất nhất của từ này.

Có một quy luật đáng để ý là: thông thường, các giải Nobel được trao cho các công trình nghiên cứu đã từng được bắt đầu thực hiện trong những năm các nhà khoa học còn là các sinh viên. Bà Ostrom bước chân vào nghiên cứu các khía cạnh kinh tế của khoa học môi trường ngay từ khi thuật ngữ này còn chưa thông dụng trong đời sống khoa học. Khi tốt nghiệp Khoa Chính trị học của Trường Đại học California năm 1954, bà Ostrom đã là một trong những người phụ nữ hiếm hoi trong giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ hai có được bằng cử nhân loại xuất sắc ở học đường có uy tín cao này.

Vào làm việc thoạt tiên ở Boston rồi ở California rồi ở Đại học Indiana, nữ GS Elinor Ostrom đã cùng chồng lập ra phòng thí nghiệm mang tên Xưởng Lý thuyết chính trị và phân tích chính trị. Bà bị hấp dẫn bởi ý tưởng thoạt nhìn có vẻ đầy mâu thuẫn về cách tổ chức cộng đồng của xã hội. Quan điểm vẫn đang được phổ biến về việc tài sản công cộng cần phải được quản lý hoặc là theo lối tập trung hóa, hoặc là theo lối tư nhân hóa - đó không phải cách tư duy của nữ GS Ostrom.

Nhiều nghiên cứu của bà đã được thể hiện trong công trình cơ bản đã công bố năm 1990 "Quản lý xã hội: tiến hóa các định chế hành động tập thể". Trong cách diễn giải của bà Ostrom, cứu rỗi của nền kinh tế thế giới không phải ở trong quá trình toàn cầu hóa của nó và cũng không phải ở sự thần thánh hóa doanh nghiệp tư nhân, mà là ở sự gia tăng các mô hình cộng đồng khác nhau - từ các công xã và các làng xã tới các thị trấn, thị tứ nhỏ hay các hợp tác xã... Chính chúng là những chủ thể quản lý có hiệu quả nhất và không mâu thuẫn nhất.

Đó là gì, một phương án khác thay thế cho chính quyền của các quốc gia? Có lẽ đó là một cố gắng theo dõi tính quy luật trong xây dựng thể chế xã hội từ dưới tận cùng, tức là từ đáy hình tháp xã hội. "Khi người ta tin rằng, những người khác, kể cả chính quyền, cũng đáp trả họ bằng một tình cảm như thế, thì họ sẽ hành xử cực kỳ chặt chẽ, - nữ GS Ostrom khẳng định. - Khi không có niềm tin, thì bất luận một nguy cơ nào đang đe dọa xã hội cũng không thể khiến người ta đoàn kết lại với nhau hơn, cho tới khi họ không bị dồn tới trước họng súng trường…".

Đó chính là cốt lõi trong lý thuyết của nữ GS Ostrom. Đó chính là "nền kinh tế có gương mặt con người" theo cách hiểu của nữ GS Elinor Ostrom mà theo bà, nó không chỉ tự thân có hiệu quả cao mà còn cho phép bảo vệ thiên nhiên, gìn giữ cho các thế hệ mai sau sự cân bằng sinh thái tối cần thiết. Nói ngắn gọn, một bộ môn khoa học kinh tế không khô cứng với các biểu đồ chứng khoán lên xuống hoa cả mắt và sùng bái kim tiền mà là một bộ môn khoa học đa dạng, nhân văn và mang tính xã hội cao. Một khoa học xanh về kinh tế!

  Lương Trung

Câu Chuyện Của Đá

23:46




Rocks

Bạn có phải là thành trì? Bạn có phải là “đá “? Tôi không nói về biệt danh hay tên lóng đâu nhé. Cũng không phải lạnh lùng như đá. Nếu bạn đã từng được gọi là “đá”, có nghĩa là một cái gì đó cứng rắn , một sức mạnh vững chải, một người mà những người khác có thể tìm đến để được an ủi, cho lời khuyên…

Thật ngộ nghĩnh và cũng thấy vui vui khi có ai đó gọi mình là “đá“? Lần đầu tiên được một người bạn gọi mình là “thành trì”, là “đá”, tôi không hiểu hết ý nghĩa của cách gọi ấy. Khi đề nghị một lời giải thích, bạn bảo tôi rằng tôi là người mà bạn có thể tựa vào để thấy mạnh mẽ hơn, để được lắng nghe và được đưa ra giải pháp cho những vấn đề mà chỉ một mình bạn không giải quyết được, và hơn hết trên thành trì tôi, bạn có thể đặt lên một phần gánh nặng của cuộc đời, những thất vọng, những muộn phiền khốn khó…

Tôi chắc chắn rằng nhiều người trong các bạn đều là đá hay thành trì của một ai đó mà không biết đấy thôi. Cũng có thể chưa có ai gọi bạn như thế, nhưng chắc chắn bạn đã từng được nghĩ đến như thế trong lòng một ai đó. Tuy nhiên phải lưu ý dẫu bạn là một người được những người khác tìm đến xin giúp đỡ, một chốn dung thân trước những phong ba của cuộc đời, điều này không có nghĩa rằng bạn không bao giờ cần một bờ vai nghiêng của ai đó để tựa vào.

Dẫu bạn vững vàng, mạnh mẽ về mặt cảm xúc, bạn có khả năng đương đầu với những nghịch cảnh của cuộc đời, mỗi chúng ta sẽ có một lúc nào đó trong đời, cần tìm một thành trì “đá” cho chính ta. Bạn biết đấy mọi tảng đá, dầu rắn thế nào, cũng có những khe nhỏ li ti bên trong lòng đá. big-embrace Nếu không có hổ trợ, những khe nứt này có thể càng lúc càng lớn do tác dụng của áp lực không ngừng. Trong khi vẫn là “đá “ là chỗ dựa cho ai đó, bạn vẫn có thể lặng lẽ đi tìm “đá” của chính bạn. Nếu bạn tin rằng bạn không bao giờ cần đến một ai khác để giúp đỡ, khuyên giải, để lắng nghe bạn mà không phán xét, hay ít nhất một cái chạm và ôm, có lẽ bạn là nhân vật “ kim cương bất hoại” hoặc giả thực sự không đủ xúc cảm theo đúng nghĩa con người.

Cũng giống như những giếng kia cần được tiếp thêm một nguồn chảy mới, giếng của bạn cũng cần được làm đầy nước kẻo nó khô cạn đi, và bạn cũng cần được tiếp thêm sức cho từng mùa. Áy chính là những yêu thương ôm ấp lấy đá. Hãy là “đá“cho ai khác, cho những ai thân thiết và gần gũi, cho những ai có hạnh ngộ trong đời, cho một hay những người xứng đáng để nghiêng đời và nghiêng vai xuống thành trì “đá” của bạn.
Nhưng chớ bao giờ phủ nhận rằng bạn cũng cần tìm nguồn sức mạnh để tiếp thêm nội lực bị tiêu hao của bạn, vì dẫu là đá rắn đến đâu bạn vẫn chịu hao mòn khi chống đỡ với nắng gió, cát bụi, mưa sa và bão táp dữ dội.

Hãy là “đá” cho những người khác trong hoạn nạn, khó khăn, trong phong ba của cuộc đời nhiều trầm luân, là thành trì “đá” cho những ai đang đối mặt với những cung đường sinh tử, hãy là một thành trì” đá” đầy yêu thương nhân ái, nhưng trước hết hãy thừa nhận rằng một lúc nào trong cuộc đời của “đá”, bạn cũng cần một thành trì “đá” cho riêng mình được xây bằng những yêu thương – để có thể che chở và nâng đỡ chính mình –như thế là yêu chính mình, và yêu người trong sự hoà hợp của “đá”.

Câu chuyện của “Đá” trên đây là chuyện đời tôi và cũng là của bạn. Chúng ta đã và đang là thành trì “Đá” của một số người ta yêu mến.

Nhưng như giếng kia luôn cần mưa làm đầy mạch nước, trong và sau bão táp sấm giông, đá có nguy cơ trôi dạt hoặc hao mòn, hãy nghiêng vai nhìn lại tìm một thành trì cho mình ẩn náu và được nghỉ ngơi.

Mỗi chúng ta hãy làm tròn sứ mạng và thực hiện hành trình của “đá”: hãy tình nguyện làm “đá“ của yêu thương, che chắn cho những ngày giông bão rớt xuống đời ai.

Huỳnh Huệ

Hãy nói cho tôi một lí do

23:41

lovewhatUdo

Chào các bạn,

Trong cuộc sống đôi khi chúng ta biết một điều gì đó tốt, chúng ta muốn làm nhưng lại cảm thấy không hoàn thành được. Dưới đây mình chỉ nêu ra một ví dụ về học ngoại ngữ và chia sẻ với các bạn kinh nghiệm của mình để thực hiện được một mục tiêu cụ thể nào đó.

Hồi cấp 3 mình thích học tiếng Anh lắm mà cuối cùng trường lại dạy tiếng Nga. Vì không thích tiếng Nga nên hồi đó học rất khổ sở, như kiểu học toán. Cô dạy cho từ nào là biết từ đó, rồi ghép ra được câu nào thì biết câu đó. Trong khi đọc tiếng Anh thì vào rất nhanh. Một vài người bạn của mình vẫn hay phàn nàn là họ học tiếng Anh khó khăn lắm, như kiểu trâu đi cày ruộng mà cày mãi cũng chẳng thấy đi đến đâu. Mỗi lần bạn bè mình hỏi kinh nghiệm học thi Toefl, học sách gì, làm bài tập ở đâu, nghe đĩa CD nào vv… mình nhìn lại thì cũng chẳng biết đã học những quyển nào, gọi là mỗi quyển một tí, và cũng toàn những sách ôn thi cơ bản như cuốn của Princeton và Longman giống như mọi người thôi. Thậm chí các sách bổ trợ cũng chỉ có vài ba quyển chứ không nhiều như mọi người tưởng. Nói về kinh nghiệm ôn thi mình cũng chia sẻ vài phương pháp nhưng cũng chỉ để tham khảo thôi vì mỗi người sẽ có một phương pháp học khác nhau.

Nghĩ đi nghĩ lại, nếu có bạn nào hỏi mình “Sao bà học tiếng Anh tốt thế?” thì chỉ có mỗi câu trả lời này là mình thấy nó hợp lý nhất “Vì tôi thích.”

Nhưng nếu chỉ thích thôi chắc mình cũng chỉ dừng lại ở trình độ giao tiếp bình thường. Ai cũng biết là đào sâu một vấn đề nào đó cần nhiều công sức lắm. Mình thì có một lí do để nâng cao khả năng Anh ngữ thêm một bậc nữa: mơ ước đi du học. Nhiều bạn có thể cười và bảo “Du học thì ai mà chả thích”. Đúng là như vậy, nhưng nhiều người nghĩ điều đó đôi khi là không tưởng, là vượt quá khả năng của bản thân. Vô vàn những lí do như Anh ngữ của tôi kém thế này, học đến bao giờ đủ điểm mà nộp hồ sơ, tôi học hành bình thường thế này, có nộp cũng chắc gì đã xin được học bổng. Nhiều và rất nhiều lí do bạn có thể kể ra. Nhưng các bạn quên mất một điều là tự hỏi mình “Có thích không?”. Nếu bạn thích đi du học hay muốn tìm một công việc mới ở một công ty đa quốc gia, vậy là bạn có một lí do để học tiếng Anh rồi đó.

Khi đã làm với sự yêu thích tự khắc bạn sẽ chủ động tìm ra phương pháp cho mình để học được tốt và đạt được mục tiêu. Lúc mình học ôn Toefl và GRE cũng vậy. Nếu không có ý định du học thì sẽ chẳng thể có động lực tốt để đóng cửa ở nhà ôn thi, trong khi bạn bè rủ đi café hay dự tiệc và bao nhiêu chuyện ngoài lề khác nữa. Khi học khó quá thì mình lại tự an ủi, nếu không đạt kết quả tốt thì dù sao trình độ tiếng Anh cũng lên được vài bậc, thế cũng là tốt quá rồi.

Còn nếu bạn chưa thấy yêu thích Anh văn, hãy đi tìm cho mình một lí do. Vì sao phải học? Vì nó tốt cho công việc của tôi sau này. Vì tôi có thể đọc báo mạng và cập nhật thông tin cho cả nhà nhanh và chính xác hơn. Vì tôi có thể đi du lịch Singapore một ngày gần đây và nói chuyện được với người bản xứ. Vì trường tôi sắp vào học yêu cầu ngoại ngữ rất cao nên tôi phải học từ bây giờ. Có vô vàn những lí do rất chính đáng để bạn thấy tại sao mình nên yêu thích và tìm hiểu một vấn đề.

Khi đã tìm được cho mình một lí do, bạn sẽ muốn làm và làm với sự say mê. Những vấn đề hóc búa dường như biến mất. Thay vào đó bạn chỉ muốn cầm từ điển tra ngay một từ mới, muốn viết ra ngay vào cuốn sổ từ vựng, muốn mở trang tiếng Anh ra đọc tin tức, muốn dậy sớm hơn thường lệ để tranh thủ tập phát âm, muốn ra hiệu sách mua một vài quyển về ngữ pháp, vân vân và vân vân.

Với những vấn đề khác trong cuộc sống cũng vậy, hãy cố gắng tìm cho mình một lí do để yêu thích trước khi bắt tay vào làm bạn nhé. Khi bạn chưa tìm được câu trả lời cho mình, hãy tìm xung quanh, hãy dừng lại và lắng nghe bản thân mình, bạn sẽ thấy câu trả lời ở đâu đó, rất gần thôi.

Chúc các bạn một ngày hứng khởi,

Hoàng Khánh Hòa

Ngoại hình có quan trọng cho thành công?

23:38

smile

Chào các bạn,

Đây là câu hỏi một bạn vừa email hỏi mình. Vì tính cách thường xuyên của câu hỏi này, mình viết một bài để chia sẻ chung với mọi người, thay vì trả lời riêng.
beautyandthebeast
Vẻ nhìn đẹp đẽ hấp hẫn có quan trọng cho sự thành công của ta sau này?

Muốn tìm câu trả lời, có lẽ ta phải nhìn lại bản chất của câu hỏi.

Trong nhà trường ta thấy các môn toán lý hóa, văn, Anh văn được xem trong. Vậy thì…

Toán có quan trọng cho sự thành công của ta sau này?
Anh văn có quan trọng cho sự thành công của ta sau này?

Hay là hỏi ngược lại:

Dốt toán có thành công được không?
Dốt Anh văn có thành công được không?
Không có ngoại hình có thành công được không?

Hỏi một lúc như vậy, tự khắc ta có câu trả lời. (Chú thích: Đây là kỹ năng gọi là kỹ năng phân tích – analytical skill. Tức là kỹ năng đặt câu hỏi. Không cần câu trả lời. Hỏi một hồi là câu trả lời tự nhiên hiện ra).
Woman at beach throwing her arms back behind her.
* Tức là, ngoại hình tốt, cũng như giỏi toán, giỏi ngoại ngữ, giỏi Anh văn, chạy nhanh như chớp… bất kỳ cái gì trời cho cũng là vốn liếng của mình, cũng là cái có thể giúp mình tạo nên sự nghiệp, nếu… mình biết dùng nó để tạo nên sự nghiệp.

Ngược lại, bất kỳ vốn liếng gì cũng sẽ bị mình làm tiêu tán, nếu mình không biết xây sự nghiệp và tiêu đến lúc phá sản.

* Vốn liếng thì tốt, nhưng chẳng có cái gì trên đời quan trọng đến nỗi không có nó thì mình không thành công cả.

Thông minh về l‎ý luận sẽ giúp ta thành công, dốt luận lý ta vẫn thành công như thường. Giỏi Anh văn sẽ giúp ta thành công, dốt Anh văn ta vẫn thành công như thường. Đẹp thì dễ mở cửa, không đẹp thì cũng mở cửa được như thường.

Bí quyết nằm ở đây: Tất cả cái gì ta đang có, từ cơ thể đến đầu óc đến tinh thần đến cảm xúc, đến gia cảnh, đến môi trường chung quanh, đều là vốn liếng của ta.

Nếu ta biết vận dụng tất cả để thành công, thì ta thành công. Ngoại hình cũng chỉ là một yếu tố trong trăm nghìn yếu tố vốn liếng của ta. Nhắc lại, chỉ là một trong trăm nghìn thứ ta có. Không hơn không kém.

* Sự thu hút của một người là do toàn diện con người ấy, toàn cơ thể, toàn đầu óc, toàn tinh thần… Đạt Lai Lat Ma đi đâu thì cũng có người mê. Mỗi lần nói chuyện cả chục ngàn người bỏ ra cả ngàn đôla để nghe. Nhưng ngoại hình của ông thì chắc không ai cho thi làm người mẫu.

* Hơn nữa, trong kỹ nghệ làm đẹp cho phụ nữ có câu: “Không có phụ nữ xấu, chỉ có phụ nữ không biết làm đẹp.” Đúng như vậy, cứ ra người đường mang một bà ăn mày nào đó, đưa vào viện thẩm mỹ, ba tiếng đồng hồ sau bà ăn mày này ra đường sẽ như minh tinh màn bạc và sẽ có khối cậu choai choai chạy xe theo rề rề.

smile
Nam nữ gì cũng vậy. Nếu muốn nhìn sáng sủa, lịch sự, hấp dẫn, chỉ cần để ‎ý đến tóc tai và cách ăn mặc một tí. Muốn ngoại hình của mình nhìn được thì phải để ‎ý đến ngoại hình một tí. Mới ngủ dậy, để nguyên cái đầu như vậy đi học hay đi làm, rồi cứ thắc mắc tại sao mình chẳng bao giờ có người yêu!

* Theo kinh nghiệm của mình, điều thu hút mạnh nhất của đàn ông cũng như đàn bà là nụ cười—không có gì có thể so sánh được–vòng 1, vòng 2, vòng 3, chiều cao, bắp tay bắp chân, gì cũng không thể địch được. Người hay cười, tự nhiên kéo người khác lại với mình. Sắc đẹp chỉ làm cho người thích ngắm mình, nhưng cái kéo người đến sát vào mình là cái “duyên”, mà nụ cười ít nhất là 50% của duyên, nếu không hơn vậy.

Sắc đẹp có năng lực kéo người lạ đến để làm quen với mình. Nhưng khi đã quen rồi thì sắc đẹp không còn việc làm nữa; lúc đó là cái duyên, cái hấp lực của cả con người mình, đa phần là từ tâm đi ra, sẽ kéo người sát vào mình và ở lại với mình.

Chúc các bạn một ngày vui!

Mến,

Hoành