Học Thở trong Nhà Trường
18:01
Giác Kiến
Thở có ý thức là một phương pháp thực tập sống tỉnh thức được nhiều vị thầy xưa cũng như nay truyền dạy. Phương pháp đó căn bản là thế này. Thở vào, hoặc chú tâm theo hơi thở hoặc ghi nhận điểm xúc chạm của hơi thở và cơ thể khi hơi thở đi vào mũi, ta ý thức được có hơi thở đang đi vào. Thở ra, tương tự theo cách như vậy, ta ý thức được hơi thở ra. Thở có ý thức là bước đầu để chúng ta hình thành thói quen thở trong tỉnh thức. Thở trong tỉnh thức là nền tảng của một đời sống tỉnh thức. Đây là quá trình căn bản nhất để nuôi dưỡng điều lành. Nếu thực tập bền bỉ kỹ năng thở có ý thức, điều lành căn bản này có thể đưa đến điều lành tối thượng. Đó là sự tỉnh thức vẹn toàn.
Bằng kinh nghiệm bản thân, các bậc Thầy lớn đều tin vào công năng chuyển hóa của hơi thở trong tỉnh thức. Tuy nhiên, người chưa từng thực hành thở có ý thức, dù có đọc qua tài liệu, khó có thể tin vào hiệu lực của phương pháp thở này. Ít ai có thể nghĩ rằng một phương pháp luyện tập dường như quá đơn giản thế này, hít vào, thở ra, ghi nhận, chỉ bấy nhiêu thôi, mà lại có tác dụng lớn đến vậy. Thế nhưng, một phương pháp thực tập được duy trì một thời gian dài qua nhiều thế kỷ, ngày nay được đông đảo người, Đông cũng như Tây, thực hành và xác nhận lợi ích thiết thực của nó, cũng đáng cho ta quan tâm và đặt niềm tin để thử một lần vận dụng công năng mà mình đang có nhưng chưa từng dùng đến. Để góp một chút vào niềm tin cần thiết đó, người viết xin ghi lại ở đây những kinh nghiệm và nhận định của các bậc Thầy lớn về quá trình nuôi dưỡng thân tâm của hơi thở có ý thức.
Thở có ý thức.
Tất cả mọi người đều thở. Hơi thở gắn liền với sự sống của mọi sinh vật. Ngưng thở là mạng sống kết thúc. Hơi thở có vai trò quyết định như vậy, nhưng thông thường, hầu hết chúng ta không để ý đúng mức đến hơi thở và tầm quan trọng của nó. Trong cuộc sống hàng ngày, ít ai để tâm đến hơi thở. Mọi người cứ sống như thể chẳng cần biết hơi thở có hay không. Có người chỉ thỉnh thoảng viện đến hơi thở khi thật sự cần thiết.
Chẳng hạn, một người chuẩn bị phát biểu trước đám đông, do hồi hộp quá, người ấy thở một vài hơi thở sâu và chậm để lấy lại bình tĩnh. Một học sinh sắp bắt đầu làm bài thi, vì quá lo lắng nên tim đập mạch, em liền thở vài hơi thật sâu để chuẩn bị tâm thế tốt hơn cho giờ thi. Một anh khuân vác liên tục vác những vật nặng trong giờ làm việc, cần có vài phút để có những hơi thở sâu nhẹ trong các lần nghỉ vai. Nghĩa là, thở chỉ trở nên quan trọng khi chúng ta rơi vào tình trạng khó thở, cả về mặt tâm lý lẫn về mặt sinh vật lý. Ngoài những tình huống khó thở như vậy, chúng ta chẳng bao giờ để ý đến hơi thở cả. Hơi thở, trong trường hợp này, được quan tâm đến như là một phản ứng tự vệ của cơ thể, hoàn toàn có tính bản năng hoặc nếu có sự can dự của ý thức, sự can thiệp này cũng rất hạn chế.
Thật ra, cách vận dụng hơi thở làm cho tâm thần an lặng trong những tình huống có vấn đề là một phản ứng bình thường của cơ thể, đơn giản như lạnh thì run, nóng thì đổ mồ hôi vậy thôi. Điều quan trọng là chúng ta cần vận dụng hơi thở bình thường tự nhiên của mình một cách có ý thức và có mục đích, để vừa điều hòa khí huyết trong thân, vừa trau dồi khả năng tỉnh thức của tâm. Do vậy, chúng ta có thể nói rằng thở có ý thức không chỉ dừng lại ở việc thở, mà là một quá trình thực tập có định hướng để nuôi dưỡng điều lành. Thở có ý thức - bản thân nó là một điều lành - sẽ làm nền tảng cho quá trình nuôi dưỡng các điều lành khác của thân và tâm.
Thở có ý thức là nuôi dưỡng thân lành. Điều người viết muốn nhắc lại ở đây là, ai cũng thở, nhưng chúng ta có thể không để ý đến hơi thở và quên nó đi một cách dễ dàng. Một lý do khiến chúng ta ít để ý đến hơi thở là vì hơi thở quá tự nhiên, tự nhiên như không khí quanh ta, tự nhiên như thể sự tồn tại của nó là tất yếu và không cần để tâm dù chỉ một mảy may. Vừa sinh ra đời là chúng ta đã bắt đầu thở. Dù chúng ta có để ý đến hơi thở của mình hay không, chúng ta vẫn thở cho đến cuối đời.
Một lý do khác nữa là, từ khi chúng ta biết suy nghĩ, chúng ta thấy trong cuộc sống có quá nhiều điều cần quan tâm và quá nhiều việc cần phải làm hơn là chú ý đến hơi thở. Có khi chúng ta nghe ai đó nói đến hơi thở quan trọng và diệu dụng như thế này hay như thế kia, chúng ta có thể đồng ý, nhưng cũng chỉ làm một cái hẹn sẽ thực hiện trong tương lai. Có thể chúng ta tự nhủ rằng khi nào rảnh mình cũng sẽ thở cho ra hồn. Nhưng tiếc rằng, cái hẹn đến lúc gọi là ‘rảnh’, may ra chỉ có khi chúng ta đã về già. Hoặc cái gọi là ‘rảnh’ đó có đến khi chúng ta còn trẻ, thì lại tiếc thay, hơi thở cũng ít khi được dự phần vào sự may mắn đó, mà phải nhường chỗ cho bao hoạt động khác như thể thao, âm nhạc, hội họa, v.v…
Nói chung, thông thường không ai cho rằng thở là một việc phải làm trừ những người thật sự ý thức về tầm quan trọng của hơi thở trong quá trình trau luyện thân tâm. Trường hợp Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện là một ví dụ. Khi nhận ra tầm quan trọng của hơi thở điều hòa, Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện bắt đầu luyện tập hơi thở một cách nghiêm túc. Với ông, thở trở thành một việc phải làm và ông đã chế ra một bài vè về việc phải làm của mình như thế này.
Thót bụng thở ra
Phình bụng thở vào
Hai vai bất động
Chân tay thả lỏng
Êm chậm sâu đều
Tập trung theo dõi
Luồng ra luồng vào
Bình thường qua mũi
Khi gấp qua mồm
Đứng, ngồi, hay nằm
Ở đâu cũng được
Lúc nào cũng được!
Điều đáng nói là nhờ vào ‘việc làm’ đơn giản này, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện - một người bị lao phổi, sau 7 lần mổ, chỉ còn một phần phổi bên trái, mất 8 xương sườn - có thể sống đến tuổi 85 trong khi các bác sĩ bảo rằng ông không thể sống thọ với phần còn lại khiêm tốn của lá phổi. Thở có phương pháp quả có một công năng thần diệu. Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện có thể sống thêm 50 năm nữa chỉ nhờ một bài thở cổ xưa. Chính vì lợi ích thiết thực của việc thở có ý thức mà khi còn sống, ông nói rằng sau khi ông mất đi, điều quan trọng ông để lại không phải là các tác phẩm văn học, triết học ông đã dày công viết ra, mà chính là bài vè thở 12 câu ấy (Đỗ Hồng Ngọc, 2009).
Thầy Nhất Hạnh là người đặc biệt chú ý đến hơi thở. Thầy là một vị Thầy lớn chuyên dạy thở, cười, tỉnh thức và thương yêu, được rất nhiều người ở nhiều nước trên thế giới ngưỡng mộ và theo học. Hơi thở ý thức có một vị trí quan trọng trong các bài dạy của Thầy dành cho mọi đối tượng khắp Đông Tây trong hơn 50 năm qua. Thầy nhận ra tầm quan trọng của hơi thở có ý thức qua kinh nghiệm thực tập của chính bản thân Thầy. Thầy kể rằng Thầy có lần từng bị ốm nặng và qua mấy năm thuốc thang vẫn không lành. Cuối cùng, Thầy đã dùng đến phương pháp thở, và chính phương pháp này đã cứu sống Thầy. Theo Thầy, hơi thở quan trọng hơn thức ăn. Hơi thở thanh lọc buồng phổi, thanh lọc máu trong huyết quản, thanh lọc và có thể làm mới cả cơ thể. Và Thầy kết luận rằng, người biết thở là người biết sử dụng một kho tàng sinh lực vô tận (Nhất Hạnh, 1976, tr. 9).
Liên quan đến công năng của hơi thở có ý thức, Thầy Satya Goenka là một vị Thầy lớn giàu kinh nghiệm và nhiều uy tín. Thầy học và thực hành thở có ý thức từ năm 1955. Như là một phương thuốc thần diệu, phương pháp thực hành thở có ý thức đã chữa lành căn bịnh đau nửa đầu nhiều năm của Thầy mà Thầy đã từng được chữa trị bằng nhiều phương cách nhưng vẫn không khỏi. Từ đó, thầy tiếp tục thực hành và quá trình thực hành đó đưa Thầy trở thành một vị Thầy dạy phương pháp tỉnh thức để rèn luyện thân tâm rộng khắp hiện nay (Fischer, 2001). Phương pháp đó được gọi là Thiền Tuệ.
Tổ sư Minh Đăng Quang cũng nhấn mạnh rằng thở có phương pháp là phép ngừa bịnh, chữa bịnh rất hay. Phương pháp này được Ngài thực hành, hướng dẫn chúng đệ tử và ghi lại trong bài Số tức quan của Chơn Lý. Theo Ngài, thở đều và sâu giúp cho nội tạng, tim gan thận bao tử ấm mạnh và các căn, mắt tai mũi lưỡi thông sạch (Minh Đăng Quang, 1998, tr. 801).
Rõ ràng, nếu hơi thở điều hòa và có ý thức không có công năng nuôi dưỡng thân thể con người một cách đáng kể, thì Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, Thầy Nhất Hạnh, Thầy Goenka, và Tổ sư Minh Đăng Quang, cũng như nhiều vị thầy khác, đã không dành phần lớn thời gian để tập luyện và chia sẻ kinh nghiệm thở của mình như vậy. Với những ai đã hiểu rõ tầm quan trọng của hơi thở điều hòa và có ý thức, thì thở có ý thức và có phương pháp là một việc cần phải làm ngay bây giờ và bất cứ ở đâu chứ không phải là việc chỉ dành cho tuổi về già hay trong giờ rảnh rỗi. Trong mọi lúc và ở mọi nơi, hơi thở có ý thức đều có thể thực hành để nuôi dưỡng thân mạng của chúng ta.
Thở có ý thức là nuôi dưỡng tâm lành. Công năng của hơi thở có ý thức không chỉ giúp nuôi dưỡng thân lành mà còn là một công cụ chuyển hóa tâm thức một cách hữu hiệu. Thầy Nhất Hạnh nói rằng hơi thở là cây cầu bắc từ bờ sinh lý sang bờ tâm lý (Nhất Hạnh, 1976, tr. 6). Hơi thở có ý thức có thể đình chỉ loạn tưởng và đưa tâm về với thân trong hiện tại một cách mầu nhiệm. Thân ở đây mà tâm rong chơi nơi khác là lúc ta sống trong tâm trạng bất an. Thật vậy, khi tâm chạy theo những suy tưởng về quá khứ dễ khiến con người nuối tiếc hoặc buồn khổ. Tâm lao theo những suy tưởng về tương lai dễ lôi kéo con người vào lo âu hoặc sợ hãi. Tâm ý thức về hơi thở là tâm đưa con người về sống trong giây phút hiện tại, thoát khỏi sự trói buộc và lôi kéo của nuối tiếc, buồn khổ, lo âu và sợ hãi không cần thiết. Tâm đó là tâm được hợp nhất với thân. Tâm đó là tâm an lành trong thân thể an lành. Nuôi dưỡng tâm lành này bằng hơi thở có ý thức trong từng phút, từng giờ, từng ngày, từng tháng... là nuôi dưỡng một đời sống an lành và hạnh phúc một cách bền vững nhất.
Trên nền tảng này, Thầy Goenka quan niệm thở có ý thức là một điều lành. Với hơi thở có ý thức, người thực hành có thể đưa tâm vào định, phát khởi trí sáng và dần dần đạt đến đỉnh cao của trí tuệ. Nói cách khác, nếu hơi thở có ý thức được nuôi dưỡng trọn vẹn thì tất cả những điều lành khác cũng sẽ phát sanh và được nuôi dưỡng. Đây là điều mà Thầy Goenka sống và dạy trong suốt 40 năm qua, hôm nay và ngày mai. Số người theo học các khóa thiền thở và thiền tuệ của Thầy ngày càng tăng. Điều này chứng tỏ phương pháp Thầy dạy có hiệu quả lớn, có công năng chuyển hóa lớn và mang lại nguồn hạnh phúc lớn cho nhiều người.
Phối hợp tri thức với tuệ giác, phối hợp lý thuyết với kinh nghiệm thực hành thiền thở và thiền tuệ nhiều năm, Giáo sư Larry Rosenberg cũng khẳng định rằng: “Theo dõi hơi thở là phương pháp thực hành rất căn bản và hiệu nghiệm. Đó là việc cả đời. Chúng ta càng ý thức rõ và liên tục về hơi thở chừng nào, chúng ta sẽ càng thấy hơi thở tự nó là tất cả. Ý thức hơi thở qua nhiều tháng, nhiều năm, chúng ta sẽ thấy rõ hơn tính toàn vẹn của hơi thở.” Theo giáo sư, “thực hành tỉnh thức trên hơi thở thôi cũng có thể đạt được giác ngộ” (2001, tr. 166).
Điều này, Tổ sư Minh Đăng Quang cũng đã dạy: thực tập hơi thở có ý thức cốt yếu là để định tâm, đó là phương pháp giúp cho “hơi thở của tâm, hơi thở của trí, hơi thở của thân hòa nhau một mực, ấy là đắc đạo” (Minh Đăng Quang, 1998, tr. 803).
Tóm lại, thở trong tỉnh thức có công năng thần diệu. Nếu chúng ta thấy phương pháp thực hành này quá đơn giản mà xem thường là chúng ta vô ý bỏ phí đi một khả năng phi thường vốn có trong mỗi con người. Bằng kinh nghiệm thực tập của mình, các bậc Thầy lớn đều xác nhận rằng thực tập hơi thở có ý thức tạo nền tảng rất căn bản và hiệu nghiệm cho quá trình nuôi dưỡng thân tâm. Thở có ý thức sẽ hình thành thói quen thở trong tỉnh thức, là điều kiện tiên quyết cho một đời sống tỉnh thức liên tục. Trên con đường tâm linh, hơi thở trong tỉnh thức có thể đưa đến đạo quả giác ngộ, là sự tỉnh thức vẹn toàn và là điều lành tối thượng.
Tài liệu tham khảo:
Đỗ Hồng Ngọc, (2009). Thở để chữa bệnh. Truy cập 10.5.2009, tại http://www.sgtt.com.vn/ detail31.aspx?newsid=52424&fld=HTMG/2009/0604/52424
Larry Rosenberg, (2001). Living in the light of dead (Biết tử là bất tử). London: Shambhala.
Minh Đăng Quang, (1952/1998). Chơn lý. Tp. HCM: NXB Tp. HCM.
Nhất Hạnh, (1976). Phép lạ của sự tỉnh thức. San Jose: Lá Bối.
Norman Fischer, (2001). The universal meditation technique of S.N. Goenka – interview with S.N. Goenka (Phương pháp hành thiền của Thầy Goenka - phỏng vấn Thầy Goenka). Truy cập 10.5.2009, tại http://www.shambhalasun.com/index.php?option=content&task= view&id=1739
Rèn luyện thân tâm bằng hơi thở trong tỉnh thức là kinh nghiệm mà Thầy Satya Goenka chắt lọc sau nhiều năm thực hành và giảng dạy. Trong bài viết này, người viết trình bày quan điểm của Thầy Goenka về phương pháp thở trong tỉnh thức và quá trình rèn luyện thân tâm qua phương pháp thở có ý thức ấy. Điểm nổi bật trong quan điểm của Thầy Goenka mà người viết tâm đắc chia sẻ ở đây là Thầy hướng đến đối tượng học là người trẻ tuổi, thay vì chỉ dành cho người trưởng thành, và trong môi trường học đường, thay vì chỉ giới hạn trong trung tâm thiền.
Học thở có ý thức là sự khởi đầu của quá trình rèn luyện thân tâm. Thầy Goenka học và thực hành thở có ý thức từ năm 1955 với Thầy U Ba Khin ở Miến Điện. Đó là một phần của phương pháp Thiền theo truyền thống Phật giáo vốn được Đức Phật và các thế hệ đệ tử của Ngài thực hành thường xuyên. Theo Thầy Goenka, thở có ý thức là điểm khởi đầu lý tưởng nhất của quá trình rèn luyện thân tâm (Goenka, 2004, tr. 2). Đó là quá trình của cả một đời cho những ai muốn có được sự cân bằng, hài hòa và an lạc cho thân và tâm. Vì hơi thở là chiếc cầu nối giữa con người và môi trường, giữa thân và tâm, nếu lấy hơi thở làm đối tượng ý thức và quán chiếu, chúng ta sẽ có khả năng hiểu và làm chủ thân tâm mình một cách hiệu quả.
Trên lý thuyết, chúng ta có thể hiểu khá rõ về thân thể mình qua các bài học sinh học. Nhưng trên thực nghiệm, chúng ta chưa ý thức và biết nhiều về bản chất, đặc tính và chức năng của các bộ phận cấu thành thân thể. Do vậy, các bộ phận bên trong cơ thể phần nhiều hoạt động một cách tự động, ngoài sự ý thức và kiểm soát của chính mình. Trong khi đó, hơi thở có phương pháp có thể đưa chúng ta từ chỗ chưa ý thức đến chỗ ý thức, từ chỗ chưa biết đến chỗ biết, từ tình trạng chưa kiểm soát đến chỗ kiểm soát được chính mình (Goenka, 2004, tr. 2-3).
Phương pháp thở có ý thức. Bằng kinh nghiệm rèn luyện và chuyển hóa của mình, Thầy Goenka nhận thấy không thể không chia sẻ phương pháp rèn luyện thân tâm này cho người khác, bởi vì, đây là một phương pháp sống bình an và lành mạnh, là một nghệ thuật sống hạnh phúc; và đây là nguồn hạnh phúc lâu bền vì nó được kết tinh từ sự hòa hợp và thanh thản của thân và tâm.
Sau khi thực hành thở trong tỉnh thức thuần thục nhiều năm, và thấy được lợi ích đến mức khó tin của phương pháp này, năm 1969, Thầy Goenka bắt đầu dạy phương pháp thở có ý thức để nhiều người cùng được lợi ích. Tiếp thu kinh nghiệm của các bậc thầy đi trước truyền lại, và bằng chính kinh nghiệm thực hành của mình, Thầy tổ chức các khóa học thở một cách có hệ thống và khoa học.
Trong khóa thiền mà Thầy hướng dẫn, Thầy bắt đầu bằng phương pháp ý thức các chuyển động liên quan đến quá trình hít thở từ thô đến tế. Trước hết là ý thức hơi thở ra vào tại vùng giới hạn ở đầu mũi. Lắng nghe sự xúc chạm của không khí phớt nhẹ chạm khẽ vào da ở đầu mũi khi hơi thở ra vào. Cảm nhận hơi ấm mà hơi thở mang theo tại điểm xúc chạm là phần căn bản và quan trọng của bài học thở vỡ lòng này. Từ bước đầu căn bản ấy, Thầy hướng dẫn cách ý thức và quán chiếu các cảm thọ, cảm xúc, ý tưởng, từ thô đến tế tùy theo mức độ gia công và gia tâm của người thực hành. Hướng dẫn một cách chi tiết và hệ thống như vậy, Thầy giúp cho người học dần dần khám phá ra sự thật về thân tâm và cuộc sống của mình: sự có mặt và vắng mặt của các hoạt động và hiện tượng trên thân, các tâm lý tích cực, các tâm lý tiêu cực, bản chất, đặc tính và nguyên nhân có mặt và vắng mặt của chúng. Trên cơ sở đó, Thầy giúp cho người học rèn luyện khả năng nhận ra sự thật một cách nhạy bén, tinh tế, sâu sắc và chính xác hơn.
Cùng với phương pháp thở có ý thức, các phương pháp nuôi dưỡng các tâm lý tích cực và chuyển hóa các tâm lý tiêu cực, các phương pháp thể hiện và chia sẻ những tâm lý tích cực qua lời nói và hành động cũng được hướng dẫn kỹ càng để mỗi hành vi và biểu hiện, đều đem lại hiệu quả tích cực nhất.
Dạy thở có ý thức cho tuổi trẻ. Điều đáng nói ở đây là Thầy Goenka không chỉ giảng dạy phương pháp thở có ý thức cho người trưởng thành mà còn giới thiệu phương pháp này đến với tuổi trẻ. Đây là sáng kiến của Thầy mà các bậc thầy trước đó chưa làm được. Thầy nói rằng giảng dạy phương pháp thở có ý thức cho tuổi trẻ là việc rất cần thiết bởi vì thở có ý thức là nuôi dưỡng được một điều lành. Đây là điều lành căn bản nhất gắn kết thân và tâm của con người. Nếu điều lành này được nuôi dưỡng thì nhiều điều lành khác sẽ được nuôi dưỡng (VRI, 2005). Không những người lớn mà tuổi trẻ cũng cần nuôi dưỡng điều lành này, bởi đó là quà tặng của sự sống cho tất cả mọi người. Do vậy, ai ai cũng có thể tập thở có ý thức và nuôi dưỡng điều lành.
Theo thầy Goenka, tuổi trẻ là tuổi phù hợp nhất cho việc học thở trong tỉnh thức. Tuổi trẻ là lứa tuổi thích khám phá. Mỗi phút giây đều có thể mang lại cho tuổi trẻ một kinh nghiệm mới. Mỗi ngày là một cơ hội cho tuổi trẻ khám phá những điều mình chưa biết, đầy hứa hẹn nhưng cũng đầy nguy hiểm. Tuổi trẻ là tuổi các em bắt đầu học về thân tâm, về cuộc sống và học cách sống có ý nghĩa. Học thở có ý thức là sự khởi đầu của quá trình đó để làm tiền đề cho sự nuôi dưỡng thân tâm lành mạnh khi đến tuổi trưởng thành.
Thầy cho rằng, nếu ở nhà trường, học sinh có cơ hội học phương pháp sống an bình và lành mạnh, thì các em sẽ có thể áp dụng phương pháp sống đó về sau như là một nguyên tắc sống ổn định của bản thân. Những gì các em học và thực tập ở nhà trường bây giờ có ảnh hưởng rất lớn đến cả một chuỗi dài cuộc đời của các em sau này. Nếp sống ấy đem lại an lạc và hạnh phúc không chỉ cho từng cá nhân mà cho cả gia đình và xã hội.
Với nhìn nhận đó, tháng Tư năm 1986, Thầy chính thức bắt đầu dạy thở cho học sinh. Khóa Thiền Thở đầu tiên được tổ chức tại trung tâm thiền Dhamma Pattana, thành phố Mumbai, Ấn Độ. Cùng với sự trợ giúp của những nhà chuyên môn và các giáo viên ở trường, Thầy đã tổ chức các lớp thiền thở với những bước thực tập rất khoa học và phù hợp với lứa tuổi của học sinh. Suốt 20 năm qua, số học sinh học theo phương pháp thở thầy dạy càng lúc càng tăng. Mỗi năm, có khoảng 50 ngàn học sinh phổ thông đăng ký theo học các lớp thở có ý thức do các cộng sự của thầy hướng dẫn. Theo một kết quả điều tra năm 2003-2004 (từ ngày 1.4.2003 đến ngày 31.3.2004), riêng ở Ấn Độ, tổng số học sinh theo học lớp thở có ý thức là 47.937 em (VRI, 2005, tr.26). Một dấu hiệu đáng mừng!
Thực tập thở có ý thức giúp cho tâm ý tập trung và yên lặng. Trong lớp thiền thở, học sinh được hướng dẫn chi tiết các kỹ năng quán sát hơi thở khi hơi thở tự nhiên ra vào. Rất đơn giản, nhưng lại rất khó thực tập, vì yếu tố cần thiết để duy trì sự thực tập là khả năng chú ý và kiên nhẫn. Trong khi đó, tâm ý của tuổi trẻ vốn năng động. Thế nhưng, nhờ hiểu biết tâm lý trẻ, vận dụng phương pháp hướng dẫn tập thở một cách linh hoạt và phù hợp, Thầy khá thành công qua các lớp dạy thiền thở cho học sinh. Khi dạy thở có ý thức cho học sinh như là một phương pháp nuôi dưỡng điều lành, Thầy Goenka đồng thời hướng dẫn học sinh phát triển kỹ năng nuôi dưỡng điều lành ở các phương diện khác qua lời nói và hành động để thân tâm thấm nhuần điều lành trong từng bước thực hành.
Thầy nói rằng: “Nay chúng ta gieo những điều lành này vào tâm thức của các em, 15 hay 20 năm sau, một thế hệ mới sẽ trưởng thành, có ý thức trách nhiệm và đủ khả năng gánh vác gia đình, xã hội, đất nước, thế giới và nhân loại” (VRI, 2005, tr. 52).
Dù có khó khăn, thực tế cho thấy Thầy Goenka đã khá thành công trong việc tổ chức các lớp thiền thở trong 20 năm qua. Các lớp thiền thở này được mở ra ngày càng rộng trên các địa bàn khác nhau đã thu hút tuổi trẻ theo học ngày càng đông. Điều này chứng tỏ các lớp thiền thở đã được tổ chức một cách có hệ thống, có phương pháp, có khoa học, có hiệu quả, phù hợp và thích ứng đối với học sinh phổ thông hiện nay.
Một tầm nhìn xa và một tâm nguyện lớn. Nỗ lực truyền dạy thiền thở cho học sinh của Thầy Goenka trong học đường phản ánh tầm nhìn và tâm nguyện của một bậc thầy lớn. Những khâu chuẩn bị chi tiết và kỹ lưỡng cho mỗi lớp học thể hiện sự quan tâm đặc biệt đối với thế hệ trẻ và ý thức được tầm quan trọng của giáo dục của một người có tầm nhìn xa rộng như Thầy. Sự theo dõi chặt chẽ từng đối tượng học sinh theo học là điều bắt buộc đối với người hướng dẫn và Thầy đã làm được việc này với sự hỗ trợ của các giáo viên trợ giảng. Thầy để tâm theo dõi sự diễn tiến của các lớp học trong quá trình dài để điều chỉnh và hoàn thiện chương trình và phương thức hướng dẫn. Từ đó, Thầy cùng các vị cố vấn chuyên môn đã dần dần chuẩn hóa lớp thở cho học sinh theo từng độ tuổi để học sinh đạt được kết quả tốt nhất một khi tham dự những lớp học luyện thân tâm như thế.
Hiện nay, bên cạnh Thầy Goenka, còn có nhiều bậc thầy lớn nhận thấy vai trò của các truyền thống tâm linh trước những khó khăn của xã hội, đặc biệt là vấn đề giáo dục cho thế hệ trẻ. Điển hình là Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nhiều lần đề cập đến giáo dục trong các buổi nói chuyện của ngài. Ngài từng nhận định rằng trong bất cứ trường hợp nào, nỗ lực trong lĩnh vực giáo dục đều có ý nghĩa rất quan trọng. Giáo dục trước hết là phương tiện giúp cho con người trau dồi phẩm chất và hiểu biết của mình. Chính vì vậy, Ngài cho rằng xây dựng trường học quan trọng hơn xây dựng các cơ sở tôn giáo (Dalai Lama, 2006). Ngài nói rằng: “Khắp nơi trên thế giới, người ta luôn dành phần nỗ lực cho công tác giáo dục. Giáo dục là một hoạt động thánh thiện, giúp con người thoát khỏi tình trạng tối tăm. Tuy nhiên, chúng ta phải hết sức cẩn trọng khi nghĩ về nền giáo dục mà chúng ta đang xây dựng cho con em của mình. Ngày nay, chúng ta thấy có rất nhiều người có giáo dục nhưng rất đau khổ. Đôi khi, tôi nghĩ, những người suy nghĩ quá nhiều thường đau khổ hơn những người ít suy nghĩ. Tại sao người ta lại đau khổ như vậy? Bởi vì người ta còn chứa chấp nhiều ham muốn, sân giận và đố kỵ” (Chopra & Chopra,, 2009). Đó là ưu tư của ngài về hiện trạng giáo dục hiện nay. Đức Đạt Lai Lạt Ma khẳng định rằng điều mà thế hệ trẻ cần đạt được qua quá trình giáo dục không chỉ là kiến thức mà là trí tuệ và lòng thương yêu để có thể sống hạnh phúc. Đó chính là những điều lành mà chúng ta cần nuôi dưỡng ở tuổi trẻ. Quá trình này có thể bắt đầu bằng việc tập thở.
Cùng quan tâm đến giáo dục thế hệ trẻ, Thầy Nhất Hạnh, một bậc thầy lớn, cũng đã chia sẻ sự quan tâm và nỗ lực truyền dạy kinh nghiệm của mình cho thế hệ trẻ nhằm giúp người trẻ tuổi định hướng được nếp sống lành mạnh dưới nhiều hình thức khác nhau để không chệch hướng khi hòa mình vào các môi trường giao tiếp xã hội. Đồng thời, trước sự khủng hoảng của nền giáo dục Việt Nam (Hoàng Tụy, 2008), Thầy cũng đã đề nghị đưa giáo dục đạo đức và tâm linh vào hệ thống giáo dục phổ thông. Trong một bài trả lời báo chí ở Việt Nam gần đây, Thầy nói rằng nếu giáo dục đạo đức và tâm linh được đưa vào chương trình giáo dục quốc gia để người trẻ tuổi có cơ hội học tập và rèn luyện thì đó là một hồng ân của dân tộc (Nhất Hạnh, 2008).
Nhắc đến suy nghĩ và tâm nguyện của các bậc thầy lớn như vậy, người viết muốn nhấn mạnh rằng nỗ lực của Thầy Goenka đưa giáo dục đạo đức và tâm linh vào giáo dục học đường là một thành tựu và là một đóng góp lớn cho ngành giáo dục nói chung. Hiện nay, các lớp thiền thở có ý thức theo sự hướng dẫn của Thầy Goenka và các cộng sự không chỉ phổ biến ở Ấn Độ, mà còn đang nhân rộng ở các nước Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Trung Quốc, Singapore, Malaysia, Campuchia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mông Cổ, Nepal, Arab, Iran, Úc, Tân Tây Lan, và một số nước châu Âu, châu Mỹ và châu Phi nữa. Tất nhiên, một mình Thầy không thể làm được điều này. Trong hai mươi năm qua, với sự hỗ trợ của nhiều nhà chuyên môn, Thầy đã hướng dẫn và đào tạo được hơn 1000 giáo viên phụ giảng. Các thầy cô phụ giảng đã góp phần tích cực vào việc tổ chức thành công các lớp học theo chương trình Thầy Goenka soạn ra. Điều này cũng phản ánh tầm nhìn và tâm nguyện cao cả của Thầy.
Khi nào các lớp thở có ý thức và nuôi dưỡng điều lành này có đủ nhân duyên để có mặt trong nhà trường ở Việt Nam? Thiết nghĩ, nếu những bậc phụ huynh, các thầy cô giáo, các vị có tấm lòng luôn gắn bó với nền văn hóa, đạo đức và tâm linh có niềm tin vào công năng chuyển hóa của hơi thở, thì việc hướng dẫn thở có ý thức như là một phương pháp rèn luyện thân tâm cho tuổi trẻ Việt Nam trong nhà trường không phải là điều không thể làm được.
Nếu góp được nhiều bàn tay, chung một tấm lòng, không có việc gì không thể. Hy vọng một ngày không xa, các lớp thiền thở sẽ xuất hiện ở Việt Nam như đã từng xuất hiện ở nhiều nước trên khắp thế giới.
Giác Kiến
Tài liệu tham khảo:
Dalai Lama, (2006). Importance of education (Tầm quan trọng của giáo dục). Truy cập 16.5.2009, tại http://www.dalailama.com/page.224.htm.
Goenka, S. N. (2004). The Discourse summaries (Tóm tắt các bài giảng trong khóa thiền). Igatpuri: VRI.
Hoàng Tụy, (2008). Nhìn thẳng vào khủng hoảng giáo dục Việt Nam. Truy cập 17.6.2008, tại http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/3949/index.aspx;
Nhất Hạnh, (2008). Cần đưa ngũ giới vào chương trình giáo dục quốc gia. Hồn Việt, Số 12, tháng 6-2008. Truy cập tại http://www.phattuvietnam.net/index.php?nv=News&at=article &sid=3640
Parveen Chopra & Swati Chopra, (2009). We Are Born To Be Happy, An exclusive interview with His Holiness the Dalai Lama (Chúng ta sinh ra để được hạnh phúc – phóng vấn Đức Đạt Lai Lạt Ma. Truy cập 17.5.2009 http://www.lifepositive.com/Spirit/world-religions/buddhism/ dalai-interview.asp
VRI, (2005). Guidelines for children’s Anapana Courses (Cẩm nang hướng dẫn thiền thở cho tuổi thơ). Igatpuri: VRI.
0 comments:
Đăng một Nhận xét